Chào mừng bạn đến với diễn đàn Luật Học k33
Hãy đăng ký thành viên để trao đổi với chúng tôi.


Bài 1 - 3

Go down

Bài 1 - 3

Bài gửi by ♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥ on Mon Aug 02, 2010 11:12 am

khai quat chung ve luat hanh chinh
v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}

st1\:*{behavior:url(#ieooui) }






CHƯƠNG
1


KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HÀNH
CHÍNH


Bài 1

NHỮNG
VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT HÀNH CHÍNH





I. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

1. Khái niệm và đặc điểm quản lý.

2. Quản lý nhà nước.

3. Quản lý hành chính nhà nước.


II. LUẬT HÀNH CHÍNH-MỘT NGÀNH LUẬT ĐỘC LẬP VỚI HỆ THÔNG PHÁP LUẬT VIỆT
NAM.


1. Đối tượng điều chỉnh của luật hành
chính.


2. Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam.


III.
MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT HÀNH CHÍNH VỚI MỘT SỐ NGÀNH
LUẬT KHÁC


1. Luật hành chính và luật hiến pháp.

2. Luật hành chính và luật đất đai.

3. Luật hành chính và luật hình sự

4. Luật hành chính và luật dân sự

5. Luật hành chính và luật lao động.

6. Luật hành chính và luật tài chính.


IV. HỆ THỐNG NGÀNH LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT
NAM.


1. Hệ thống ngành luật hành chính Việt nam.

2. Vai trò của luật hành chính Việt nam.


V. KHOA HỌC LUẬT HÀNH CHÍNH.

1. Ðối tượng nghiên cứu.

2. Nhiệm vụ của khoa học luật hành chính.

3. Phương pháp nghiên cứu

4. Nguồn tài liệu.


VI. MÔN HỌC LUẬT HÀNH CHÍNH.



______________________________________________________________________________________________

I. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
1.Khái niệm và đặc điểm quản lý

TOP
Có nhiều cách giải thích khác nhau cho thuật ngữ "hành chính" và "luật hành
chính". Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất ở một điểm chung: Luật Hành chính là
ngành luật về quản lý nhà nước. Do vậy, thuật ngữ "hành chính" luôn luôn đi kèm
và được giải thích thông qua khái niệm "quản lý" và "quản lý nhà nước".

a. Quản lý
Khái niệm quản lý
Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình "tổ chức và điều khiển
các hoạt động theo những yêu cầu nhất định"[1], đó là sự kết hợp giữa tri thức
và lao động trên phương diện điều hành. Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu
là hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều
khiển, chỉ huy. Dù duới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ
sở, nguyên tắc đã được định sẳn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức
là mục đích của quản lý.
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình,
căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay
quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích
đã đặt ra từ trước. Là một yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu
được trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý
càng lớn và nội dung càng phức tạp. Từ đó, quản lý thể hiện các đặc điểm:

Ðặc điểm của quản lý
+ Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ
thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý. "Ðúng ý chí của người quản
lý" cũng đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi tai sao phải quản lý và quản lý để
làm gì.
+ Quản lý là sự đòi hỏi tất yếu khiùù có hoạt động chung của con người. C.Mác
coi quản lý xã hội là chức năng đặc biệt sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao
động.
+ Quản lý trong thời kỳ nào, xã hội nào thì phản ánh bản chất của thời kỳ đó,
xã hội đó. Ví dụ: ở thời kỳ công xã nguyên thủy thì hoạt động quản lý còn mang
tính chất thuần túy, đơn giản vì lúc này con người lao động chung, hưởng thụ
chung, hoạt động lao động chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm, người quản lý bấy
giờ là các trưởng làng, tù trưởng. Thời kỳ này chưa có nhà nước nên hoạt động
quản lý dựa vào các phong tục, tập quán chứ chưa có pháp luật để điều
chỉnh.
+ Quản lý muốn được thực hiện phải dựa trên cơ sở tổ chức và quyền uy. Quyền
uy là thể thống nhất của quyền lực và uy tín. Quyền lực là công cụ để quản lý
bao gồm hệ thống pháp luật và hệ thống kỷ luật nhà nước được tổ chức và hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phân cấp quản lý rành mạch. Uy tín thể
hiện ở kiến thức chuyên môn vững chắc, có năng lực điều hành, cùng với phẩm chất
đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng, đảm bảo cả hai yếu tố "tài"
và đức". Uy tín luôn gắn liền với việc biết đổi mới, biết tổ chức và điều hành,
thực hiện "liêm chính, chí công, vô tư". Nói một cách ngắn gọn, có quyền uy thì
mới đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện
quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc đối với đối
tượng quản lý trong việc thực hiện các mệnh lệnh, yêu cầu mà chủ thể quản lý đề
ra.
2. Quản lý nhà nước
TOP
Nhà nước
Hệ thống chính trị của nhà nước ta bao gồm: Ðảng Cộng sản Việt nam, Mặt trận
tổ quốc Việt nam, các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác và Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Trong cơ chế tổng hợp quản lý đất nước, nhà
nước là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng quản lý (quản lý nhà nước). Sự quản
lý của nhà nước trên cơ sở đại diện cho toàn xã hội, cho ý chí và nguyện vọng
của toàn dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Ðảng,
theo pháp luật.
Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của
con người. Ðiểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình thức quản lý
khác (ví dụ: quản lý của các tổ chức xã hội...), là tính quyền lực nhà nước gắn
liền với cưỡng chế nhà nước khi cần. Từ khi xuất hiện, nhà nuớc điều chỉnh các
quan hệ xã hội được xem là quan trọng, cần thiết. Quản lý nhà nước được thực
hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện
chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
3. Quản lý hành chính nhà nước

TOP
Khái niệm
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan
hành chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước
ủy quyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức
năng tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Nói cách
khác, quản lý hành chính nhà nước (nói tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý
nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít nhất một bên có thẩm
quyền hành chính nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành.
Quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các
cấp, không kể một số tổ chức thuộc nhà nước mà không nằm trong cơ cấu quyền lực
như các doanh nghiệp.
Ðặc điểm của quản lý hành chính nhà nước
1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa
mang tính điều hành.

- Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền
lập pháp và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào qui trình lập pháp và tư pháp.
Tính chấp hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện ở sự thực
hiện trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ
quan lập pháp- cơ quan dân cử.

- Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chổ là
để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên
thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt
động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.

- Ðể đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu.
Trong đó, quản lý hành chính nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn
bản của cơ quan dân cử đaị diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà
thực hiện quản lý điều hành. Mọi hoạt động chấp hành và điều hành đều phải xuất
phát từ mục đích nhằm phục vụ cho nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội cho nhân dân
về mọi mặt, tương ứng với các lĩnh vực trong quản lý hành chính nhà nước.

2. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động
và sáng tạo. Ðiều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý hành chính căn cứ vào
tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý để đề ra các biện pháp
quản
lý thích hợp. Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các hoạt động
quản lý nhà nước. Tính chủ động sáng tạo được quy định bởi chính bản thân sự
phức tạp, đa dạng, phong phú của đối tượng quản lý và đòi hỏi các chủ thể quản
lý phải áp dụng biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu
quả nhất. Tuy nhiên, chủ động và sáng tạo không vượt ra ngoài phạm vi của nguyên
tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật nhà nước. Ðể đạt được điều này, đòi hỏi
tôn trọng triệt để tất cả các nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc quản lý
hành chính nhà nước.
3. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm về phương diện tổ
chức bộ máy hành chính nhà nước.

- Trước hết là bộ máy cơ quan nhà nước - đây là hệ thống cơ quan nhiều về số
lượng, biên chế; phức tạp về cơ cấu tổ chức; đa dạng về chức năng, nhiệm vụ cũng
như phương pháp hoạt động; có cơ sở vật chất to lớn, có đối tượng quản lý đông
đảo, đa dạng, chủ thể chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, đó là điều kiện
quan trọng để thực hiện nhiệm vụ quản lý. Các cơ quan hành chính trực tiếp xử lý
công việc hàng ngày của Nhà nước, thường xuyên tiếp xúc với dân, giải quyết các
yêu cầu của dân, là cầu nối quan trọng của Ðảng, nhà nước với nhân dân. Nhân dân
đánh giá chế độ, đánh giá Ðảng trước hết thông qua hoạt động của bộ máy hành
chính.
- Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong hoạt động quản lý. Liên tục để tránh
lối làm việc hô hào, theo phong trào. Tính ổn định nhằm để đảm bảo các hoạt động
như: lưu trữ hồ sơ, giấy tờ. Ðó có thể nói là trách nhiệm của cơ quan hành chính
nhà nước đối với xã hội.
4. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có
chương trình và có kế hoạch để thực hiên mục tiêu. Công tác quản lý hành chính
nhà nước là hoạt động có mục đích và định hướng. Vì vậy, phải có chương

trình, kế họach dài hạn, trung hạn và hàng năm. Có các chỉ tiêu vừa mang tính
định hướng, vừa mang tính pháp lệnh; có hệ thống pháp luật vừa được áp dụng thực
thi triệt để cho hoạt động quản lý, vừa tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đặt
dưới sự quản lý ấy.
5. Quản lý hành chính nhà nước XHCN không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt
xã hội giữa chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý).
Cán bộ quản lý nhà nước phải là "công bộc" của nhân dân, biết lắng
nghe ý
kiến của quần chúng nhân dân, thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia
vào việc quản lý nhà nước và xã hội. Chống quan liêu, cửa quyền, hách dịch, ức
hiếp quần chúng.
6. Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao. Ðó chính là nghiệp vụ của một
nền
hành chính văn minh, hiện đại. Khi nói đến một "nền kinh tế tri thức"-
nền kinh tế mà ở đó giá trị của tri thức, của sự hiểu biết được đặt lên hàng
đầu-thì đội ngũ quản lý nền kinh tế tri thức ấy phải có một tầm vóc tương xứng.
Quản lý nhà nước khác với hoạt động chính trị ở chổ: trình độ kiến thức chuyên
môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng đầu.
7. Tính không vụ lợi: Quản lý hành chính nhà nước lấy việc phục vụ lợi ích
công làm
động cơ và mục đích của hoạt động. Quản lý hành chính nhà nước
không phải vì lợi ích thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi
nhuận. Cán bộ hành chính vì vậy phải bảo đảm "cần kiệm, liêm chính, chí công, vô
tư".
II. LUẬT HÀNH CHÍNH-MỘT NGÀNH LUẬT ĐỘC LẬP TRONG HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT VIỆT NAM.


1. Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính

TOP
Ðối tượng điều chỉnh của một ngành luật nói chung là những quan hệ xã hội xác
định các đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó
điều chỉnh. Cùng với phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là tiêu chuẩn
để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác.
Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam là những quan hệ xã hội chủ
yếu và cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, hay nói
khác hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội hầu
hết phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.

Nhìn chung, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính bao gồm những vấn đề
sau:
+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn
chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước.
+ Các hoạt động quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, trật
tự xã hội trên từng địa phương và từng ngành.
+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Ðây phải được
xác định là mục tiêu hàng đầu của quản lý hành chính.
+ Khen thưởng, trao danh hiệu cho các cá nhân tổ chức có đóng góp và đạt được
những thành quả nhất định trong lĩnh vực hành chính nhà nước hoặc trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội theo luật định; xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt
Nam ta có thể chia các quan hệ xã hội
thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính thành hai nhóm lớn.

* Nhóm 1: Những quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ
quan hành
chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong
phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước (ngoại trừ hoạt động trong quan hệ công
tác nội bộ), với mục đích chính là đảm bảo trật tự quản lý, hoạt động bình
thường của các cơ quan hành chính nhà nước.

Nhóm này thường được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính công. Nói một cách
ngắn gọn, quan hệ pháp luật hành chính công được hình thành giữa các bên chủ thể
đều mang tư cách có thẩm quyền hành chính nhà nước khi tham gia vào quan hệ pháp
luật hành chính đó.

Ðây là nhóm những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh cơ bản của luật hành
chính. Thông qua việc thiết lập những quan hệ loại này, các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện các chức năng cơ bản của mình. Những quan hệ này rất đa dạng,
phong phú bao gồm những quan hệ được chia thành 2 nhóm nhỏ như sau:

* Quan hệ dọc
1. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ
quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc. Ðó là những cơ quan nhà
nước có cấp trên, cấp dưới phụ thuộc nhau về chuyên môn kỷ thuật, cơ cấu, tổ
chức...

Ví dụ: Mối quan hệ giữa Chính phủ với UBND tỉnh Cần Thơ; Bộ Tư pháp
với
Sở Tư pháp...
2. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cấp dưới
trực tiếp nhằm thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Mối quan hệ giữa Bộ Tư pháp với UBND tỉnh Cần Thơ; giữa Sở
Thương
mại tỉnh Cần Thơ với UBND huyện Ô Môn...
3. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị, cơ sở trực
thuộc.

Ví dụ: Quan hệ giữa Bộ Giáo dục - Ðào tạo với Trường đại học Cần Thơ,
Giữa
Bộ Y tế và các bệnh viện nhà nước.
* Quan hệ ngang
1. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung
với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp.
Ví dụ: Mối quan hệ giữa UBND tỉnh Cần Thơ với Sở Thương mại tỉnh Cần
Thơ
; Giữa Chính Phủ với Bộ Tư pháp ...
2. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng
cấp với nhau. Các cơ quan này không có sự phụ thuộc nhau về mặt tổ chức nhưng
theo quy định của pháp luật thì có thể thực hiện 1 trong 2 trường hợp sau:

- Một khi quyết định vấn đề gì thì cơ quan này phải được sự đồng ý, cho
phép hay phê chuẩn của cơ quan kia trong lĩnh vực mình quản lý.

Ví dụ: Mối quan hệ giữa Bộ Tài chính với Bộ Giáo dục - Ðào tạo trong
việc
quản lý ngân sách Nhà nước; giữa Sở Lao động Thương binh -Xã hội với
các Sở khác trong việc thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước.

- Phải phối hợp với nhau trong một số lĩnh vực cụ thể

Ví dụ: Thông tư liên Bộ do Bộ giáo dục đào tạo phối hợp với Bộ tư pháp ban
hành về vấn đề liên quan đến việc đào tạo cử nhân Luật
Thông tư liên ngành do Bộ trưởng Bộ tư pháp phối hợp với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao liên quan đến lĩnh vực tội phạm ban hành.

3. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị, cơ
sở trực thuộc trung ương đóng tại địa phương đó.
Ví dụ: quan hệ giữa UBND tỉnh Cần Thơ với Trường đại học Cần
Thơ.

Thực tiễn của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cho thấy trong một số
trường hợp pháp luật quy định có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành -
điều hành cho một số các cơ quan nhà nước khác (không phải là cơ quan hành chính
nhà nước), các tổ chức, cá nhân. Ðiều này có nghĩa là hoạt động quản lý hành
chính nhà nước không chỉ do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành.

Hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức hoặc cá nhân được
trao quyền có tất cả các hậu quả pháp lý như hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước nhưng hoạt động này chỉ giới hạn trong việc thực hiện hoạt động
chấp hành điều hành

Ngoài ra, mỗi cơ quan nhà nước đều có chức năng cơ bản riêng và muốn hoàn
thành chức năng cơ bản của mình, mỗi cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt
động như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ,
phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của cơ quan, công việc văn phòng, đảm bảo
những điều kiện vật chất cần thiết. Ðây là hoạt động tổ chức nội bộ còn gọi là
quan hệ công tác nội bộ khác với quan hệ pháp luật hành chính, nhưng có quan
hệ chặt chẽ với hoạt động hành chính. Nếu hoạt động này được tổ chức tốt thì
hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính ấy
sẽ cao và ngược lại, nếu việc
tổ chức nội bộ quá cồng kềnh thì hoạt động hành chính của cơ quan đó sẽ mang lại
hiệu quả không cao.
* Nhóm 2: Các quan hệ quản lý hình thành khi các cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong các trường hợp cụ thể liên
quan trực tiếp tới các đối tượng không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc
tham gia vào quan hệ đó không với tư cách của cơ quan hành chính nhà nước, với
mục đích chính là phục vụ trực tiếp nhân dân, đáp ứng các quyền và lợi hợp pháp
của công dân, tổ chức.

Nói ngắn gọn, đây là quan hệ pháp luật hành chính tư, hình thành giữa một
bên chủ thể tham gia với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước và
một bên chủ thể tham gia không với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà
nước. Nhóm này được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính tư". Ðây là mục đích cao
nhất của quản lý hành chính nhà nước khi
cơ quan hành chính- cơ quan được
xem là công bộc của nhân dân, quản lý hành chính vì quyền lợi nhân dân, vì trật
tự chung cho toàn xã hội, bao gồm các quan hệ cụ thể sau đây:
1. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc
các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Các đơn vị kinh tế này được đặt dưới sự
quản lý thường xuyên của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.

Ví dụ: Giữa UBND huyện Ô Môn với Hợp tác xã sản xuất nhà nước trên địa
bàn
huyện Ô Môn.
2. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội, đoàn
thể quần chúng.

Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức
thành viên của
Mặt trận.
3. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân Việt Nam, người
nước ngoài, người không quốc tịch đang làm ăn cư trú tại Việt Nam.

Ví dụ: quan hệ giữa cảnh sát với cá nhân (gồm công dân Việt
Nam, người nước
ngoài, người
không quốc tịch) vi phạm luật lệ giao thông.
* Mối liên hệ giữa hành chính tư và hành chính công
Thật ra mọi sự phân chia chỉ mang tính chất tương đối để tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trính nghiên cứu. Hai lĩnh vực hành chính tư và hành chính công liên
quan trực tiếp và tương hỗ cho mục đích của quản lý hành chính nhà nước. Quản lý
hành chính công là cơ sở để bảo đảm hoạt đông bình thườỡng của cơ quan hành
chính nhà nước. Trong khi đó, quản lý hành chính tư thể hiện rõ trực tiếp mục
đích của quản lý hành chính, giữ gìn trật tự quản lý xã hội theo nguyên vọng của
nhân dân. Trong quá trình quản lý, có những công việc liên quan đền cả hai lĩnh
vực hoặc rất khó phân biệt giữa hai phạm vi: hành chính tư và hành chính công.
Chẳng hạn như khi nhận được đơn khiếu nại về việc cấp giấy phép xây dựng cho một
cá nhân công dân đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, cơ quan cấp trên
trực tiếp ra chỉ thị buộc cơ quan hành chính cấp dưới phải xem xét lại quyết
định của cơ quan ấy. Trường hợp này phát sinh này có 3 quan hệ pháp luật hành
chính. (hai quan hệ pháp luật hành chính tư, một quan hệ pháp luật hành chính
công).
Trên cơ sở phân tích đặc điểm của các vấn đề liên quan đến luật hành chính,
đối tượng điều chỉnh của luật hành chính, có thể đưa ra định nghĩa luật hành
chính như sau:
Luật hành chính là một ngành luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật
điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà
nước của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình các cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình,
các quan hệ xã hội trong quá trình các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cá
nhân thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với các vấn đề cụ thể
do pháp luật quy định.

Ngoài ra có thể định nghĩa luật hành chính một cách ngắn gọn hơn: Luật
hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan hành chính
nhà nước.

Như vậy, qua định nghĩa trên ta thấy rằng chỉ có thể nói đến điều chỉnh
bằng pháp luật hành chính khi trong quan hệ quản lý phải có ít nhất một bên
có thẩm quyền với tư cách là chủ thể thực hiện chức năng chấp hành và điều hành
của nhà nước. Nếu cơ quan hành chính nhà nước hoạt động không phải trong

phạm vi, lĩnh vực thẩm quyền của mình, không sử dụng quyền lực nhà nước, thì
hoạt động đó được thực hiện không phải thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật
hành chính.
2. Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam

TOP
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức tác động đến các quan
hệ xã hội bằng pháp luật. Phương pháp điều chỉnh là yếu tố quan trọng để xác
định ngành luật đó có phải là ngành luật độc lập hay không. Ngoài ra, phương
pháp điều chỉnh còn góp phần xác định phạm vi điều chỉnh của các ngành luật
trong trường hợp những quan hệ xã hội có chỗ gần kề hoặc đan xen với nhau.

Ðặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là tính mệnh lệnh
đơn phương, xuất phát từ quan hệ quyền uy - phục tùng giữa một bên có quyền nhân
danh nhà nước và ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên có nghĩa vụ phục tùng.
Sự áp đặt ý chí được thể hiện trong các trường hợp sau:
- Cả hai bên đều có những quyền hạn nhất định do pháp luật quy định nhưng bên
này quyết định vấn đề gì thì phải được bên kia cho phép, phê chuẩn. Ðây là quan
hệ đặc trưng của hành chính công.
- Một bên có quyền đưa ra những yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có thẩm quyền
xem xét, giải quyết, có thể thỏa mãn những yêu cầu, kiến nghị này hoặc có thể
bác bỏ.
- Một bên có quyền ra các mệnh lệnh yêu cầu còn bên kia phải phục tùng các
yêu cầu, mệnh lệnh đó.
- Một bên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính buộc đối tượng
quản lý phải thực hiện mệnh lệnh của mình. Sự bất bình đẳng còn thể hiện rõ nét
trong tính chất đơn phương và bắt buộc của các quyết định hành chính.

Các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể quản lý hành chính nhà nước,
dựa vào thẩm quyền của mình trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình có quyền ra
những mệnh lệnh hoặc đề ra các biện pháp quản lý thích hợp đối với từng đối
tượng quản lý cụ thể. Những quyết định ấy có tính chất đơn phương vì chúng thể
hiện ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở quyền lực đã được
pháp luật quy định.
Ngoài ra, có những trường hợp phương pháp thoả thuận được áp dụng trong quan
hệ pháp luật hành chính, còn gọi là "quan hệ pháp luật hành chính theo chiều
ngang". Cụ thể như khi ban hành các văn bản liên bộ, liên ngành, liên tịch...(ví
dụ: Thông tư Liên Bộ của Bộ Tư pháp và Bộ Xây dựng; Thông tư liên tịch giữa Mặt
trận Tổ Quốc Việt nam và Bộ giáo dục...). Tuy nhiên, các "quan hệ pháp luật hành
chính theo chiều ngang" cũng là tiền đề cho sự xuất hiện "quan hệ pháp luật hành
chính theo chiều dọc". Suy cho cùng, các quan hệ pháp luật hành chính cũng không
hoàn toàn bình đẳng tuyệt đối. Trên những đặc quyền hành chính và thể chế hành
chính, các bên chấp nhận những đề nghị của nhau, cùng phục vụ cho mục đích quản
lý hành chính nhà nước.
Tóm lại: Phương pháp điều chỉnh chủ yếu của luật hành chính Việt
Nam là
phương pháp mệnh lệnh đơn
phương. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
- Một bên được nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực để đưa ra các quyết định
hành chính còn bên kia phải tuân theo những quyết định ấy.
- Quyết định hành chính phải thuộc phạm vi thẩm quyền của bên nhân danh nhà
nước, vì lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, trên cơ sở pháp luật có hiệu lực bắt
buộc thi hành đối với các bên hữu quan và được đảm bảo thi hành bằng sự cưỡng
chế nhà nước.
Từ các phân tích trên, có thể kết luận được Luật Hành chính là ngành luật độc
lập trong hệ thống pháp luật Việt nam, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp
điều chỉnh đặc thù gắn liền với khái niệm quản lý hành chính nhà nước.

III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT HÀNH CHÍNH VỚI MỘT SỐ NGÀNH LUẬT
KHÁC.

Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật khác
nhau, mỗi ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định với những đối
tượng riêng và bằng những phương pháp điều chỉnh nhất định. Ngoài việc phân biệt
các ngành luật với nhau nhằm làm rõ sự đặc thù của mỗi ngành luật, còn phải thấy
được mối quan hệ giữa chúng trong một chỉnh thể hoàn chỉnh: hệ thống pháp luật
Việt nam.
1. Luật hành chính và luật hiến pháp

TOP
Luật hiến pháp là ngành luật có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội
cơ bản nhất, quan trọng nhất như chính sách cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực
đối nội đối ngoại; chế độ kinh tế - chính trị; các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị của nước ta; thiết lập bộ máy nhà nước. Ðối tượng
điều chỉnh của luật hiến pháp rộng hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính.

Luật hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa, chi tiết hóa
các quy phạm pháp luật nhà nước để từ đó điều chỉnh những quan hệ xã hội phát
sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước. Ngược lại, các vấn đề
quyền công dân, về tổ chức bộ máy bộ máy nhà nước được qui định cơ bản trong
hiến pháp, thể hiện rõ tính ưu việt trong các qui phạm pháp luật hành
chính.
2. Luật hành chính và luật đất đai

Luật Hành chính nói ngắn gọn là ngành luật về quản lý nhà nước. Quản lý hành
chính nhà nước trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội là những mảng tương ứng
của luật hành chính. Luật đấi đai là một ví dụ. Luật đất đai, về phương diện
hành chính là ngành luật về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai,
xuất hiện, thay đổi và chấm dứt khi có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này có những nét đặc thù riêng. ở nước ta,
"đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý"[1]. Vì vậy không
có khái niệm "chuyển nhượng quyền sở hữu đất", mà chỉ có khái niệm "chuyển
nhượng quyền sử dụng đất". Hơn nữa, luật đất đai không chỉ được cơ quan hành
chính nhà nước điều chỉnh như một lĩnh vực có tính đặc thù riêng, mà còn được
điều chỉnh trên cơ sở quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến các hợp đồng cầm
cố, thế chấp đất đai. Vì vậy, theo quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay
thống nhất, luật đất đai là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam, có
quan hệ chặt chẽ sơ khởi với quan hệ pháp luật hành chính:
- Luật đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước, với tư cách là
chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai.
- Trong quan hệ pháp luật đất đai, nhà nước có tư cách vừa là chủ sở hữu, vừa
là người thực hiện quyền lực nhà nước.
3. Luật hành chính và luật hình sự

TOP
Cả hai ngành luật này đều có các chế định pháp lý quy định hành vi vi phạm
pháp luật và các hình thức xử lý đối với người vi phạm. Trong cả hai quan hệ
pháp luật này, ít nhất là một bên trong quan hệ nhân danh nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước.
- Hơn nữa, việc phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm hành chính đôi khi khá
phức tạp, nhất là những trường hợp vi phạm hành chính "chuyển hoá" thành tội
phạm.
- Luật hành chính qui định nhiều nguyên tắc có tính bắt buộc chung, ví dụ
như: qui tắc an toàn giao thông, qui tắc phòng cháy chữa cháy, qui tắc lưu thông
hàng hoá, văn hoá phẩm. Trong một số trường hợp, khi vi phạm qui tắc ấy có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ như: hành vi buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hoá, trốn thuế...Những hành vi nêu trên nếu được thực hiện lần đầu với
số lượng không lớn thì là vi phạm hành chính, còn nếu với số lượng lớn hoặc đã
bị xử lý hành chính mà còn tái phạm thì đó là tội phạm. Tuy nhiên, giữa chúng có
sự khác biệt cơ bản sau:
Luật hình sự quy định hành vi nào là tội phạm, hình phạt nào áp dụng cho hành
vi phạm tội, điều kiện, thủ tục áp dụng. Ðể xác định hành vi nào thuộc đối tượng
điều chỉnh của luật hình sự cần phải xem xét các yếu tố cấu thành của tội phạm
về mặt chủ quan, khách quan, chủ thể, khách thể. Thêm nữa, luật hình sự phân
biệt với luật hành chính ở tính chất hành vi có tính chất nguy hiểm cao, mức độ
thiệt hại lớn hơn.
Còn luật hành chính lại quy định về các hành vi vi phạm hành chính, các hình
thức xử lý vi phạm hành chính và các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý đối
với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Sự khác nhau giữa hai ngành luật này là
ở tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính không
phải là hình phạt vi phạm hành chính mà là chế tài đối với vi phạm hành chính.
"Hình phạt" trong hệ thống pháp luật Việt nam chỉ được qui định và áp dụng trong
luật hình sự mà thôi.
4. Luật hành chính và luật dân sự
Ðối tượng điều chỉnh của luật dân sự là những quan hệ tài sản mang tính chất
hàng hóa tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi tài sản. Luật dân sự quy định nội
dung quyền sở hữu, những hình thức chuyển nhượng, sử dụng, định đoạt tài
sản...và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là phương pháp bình đẳng, thỏa
thuận. Trong quan hệ pháp luật dân sự các chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và
nghĩa vụ. Trong khi đó đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành-điều hành. Luật hành chính quy định
những vấn đề như thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà vắng chủ,
trưng mua tài sản...
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phương, dựa trên
nguyên tắc quyền uy - phục tùng. Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thể
trực tiếp điều chỉnh quan hệ tài sản thông qua việc ban hành quyết định chuyển
giao tài sản giữa các cơ quan, tổ chức đó. Một số cơ quan quản lý có quyền ra
quyết định tịch thu, kê kiên tài sản hoặc phạt tiền. Nhưng trong cơ chế quản lý
mới hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu điều chỉnh quan hệ tài sản
một cách gián tiếp thông qua các quyết định về kế hoạch, tiêu chuẩn, chất lượng,
về cơ chế định giá...
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, các cơ quan quản lý nhà nước cũng tham gia
trực tiếp vào quan hệ pháp luật dân sự. Nhưng ở đây, các cơ quan đó không hoạt
động với tư cách trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà tham gia với
tư cách một pháp nhân, do vậy không thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật
hành chính.
5. Luật hành chính và luật lao động

TOP
Nhiều qui phạm của Luật Hành chính và Luật lao động đan xen, phối hợp để điều
chỉnh những vấn đề cụ thể liên quan tới hoạt động công vụ, lao động viên chức,
tuyển dụng, cho thôi việc đối với viên chức nhà nước, nhưng điều chỉnh từ những
góc độ khác nhau. Nếu luật lao động "nội dung" của việc quản lý trong lĩnh vực
quan hệ lao động, "trình tự ban hành" các quan hệ lao động ấy lại được qui định
trong luật hành chính. Nói một cách cụ thể:
Luật lao động điều chỉnh những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi
ích của người lao động như quyền nghỉ ngơi, quyền được trả lương, quyền hưởng
bảo hiểm xã hội và bảo hộ lao động...
Luật hành chính xác định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong
lĩnh vực lao động, đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến việc
tổ chức quá trình lao động và chế độ công vụ, thủ tục tuyển dụng, thôi việc,
khen thưởng ...
Hai ngành luật này quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện:
- Quan hệ pháp luật hành chính là phương tiện thực hiện quan hệ pháp luật lao
động.
Ví dụ: Sau khi thi đậu và được công nhận vào ngạch công chức, cán bộ A được
hưởng các chế độ nghỉ lễ, tử tuất do luật lao động qui định.
- Quan hệ pháp luật lao động lại là tiền đề của quan hệ pháp luật hành
chính.
Ví dụ: Sau khi ký hợp đồng lao động với xí nghiệp (doanh nghiệp nhà nước), cá
nhân A với tư cách là thành viên của tập thể lao động xí nghiệp đó, có quyền
tham gia quản lý trong doanh nghiệp theo nhiệm vụ được phân công.

6. Luật hành chính và luật tài chính

TOP
Luật tài chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực
hoạt
động tài chính của nhà nước, trong đó bao gồm cả các lĩnh vực về thu
chi ngân sách, phân phối nguồn vốn của nhà nước mang tính chất tiền tệ liên quan
đến nguồn thu nhập quốc dân. Nhìn một cách tổng quát, luật tài chính và luật
hành chính đều điều chỉnh hoạt động tài chính của nhà nước:
+ Là một bộ phận chấp hành, điều hành nhà nước, luật tài chính cũng sử dụng
phổ biến phương pháp mệnh lệnh.
+ Luật hành chính qui định cơ chế kiểm toán nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong
các quan hệ tài chính.
+ Luật hành chính chứa đựng các QPPL qui định thẩm quyền của các cơ quan của
các công tác tài chính vừa là qui phạm của luật hành chính, đồng thời là nguồn
của luật tài chính.
Tuy vậy, không chỉ có nguồn gốc liên quan chặt chẽ đến luật hành chính, mà
còn có mối quan hệ với luật hiến pháp và một phần của luật dân sự. Các nguyên
tắc của luật dân sự được áp dụng trong một số hoạt động tài chính như tín dụng,
thuế... còn luật tài chính đa phần là điều chỉnh chính các quan hệ tín dụng,
thuế...ấy.
IV. HỆ THỐNG NGÀNH LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ LUẬT HÀNH CHÍNH
VIỆT NAM.

1. Hệ thống ngành luật hành chính Việt nam

TOP
Luật hành chính gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan
hệ quản lý nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có mối quan
hệ mật thiết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất gọi là hệ thống ngành
luật hành chính Việt Nam. Hệ thống này được phân chia theo
các tiêu chí sau:
1. Theo chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý:
- Qui phạm pháp luật Hành chính công.
- Qui phạm pháp luật Hành chính tư.
2. Theo phạm vi quản lý:
- Quản lý hành chính nhà nước nói chung.
- Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đời sống xã hội.
3. Theo cách thức tiếp cận:
- Quản lý hành chính nhà nước và chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý hành
chính nhà nước.
- Cách thức quản lý hành chính nhà nước, những phương thức nhằm bảo đảm pháp
chế XHCN và kỷ luật nhà nước.
- Quản lý hành chính nhà nước trong trong lĩnh vực qui hoạch xây dựng.

- Tố tụng hành chính và các vấn đề có liên quan.
Trên cơ sở kết hợp các cách phân loại trên, luật hành chính sẽ được nghiên
cứu tập trung các phần cơ bản và thiết yếu nhất, sẽ được trình bày chi tiết ở
phần: môn học luật Hành chính.
2. Vai trò của luật Hành chính Việt nam

TOP
Luật hành chính Việt Nam là một ngành luật về quản lý nhà
nước, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Cụ
thể:
a. Về phương diện chính trị:
- Tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà
nước, việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
- Góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
b. Về phương diện kinh tế
- Ðóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc
dân;
- Thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế phát triển đồng bộ, nâng cao đời sống nhân
dân.
c Về phương diện xã hội
- Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập thể, của
nhà nước;
- Hướng tới mục tiêu cao cả nhất của thể chế hành chính, đồng thời cũng là
bản chất của chế độ XHCN là phục vụ cho nhân dân và "công bộc" của nhân
dân.
V. KHOA HỌC LUẬT HÀNH CHÍNH.
Khoa học luật hành chính là một ngành khoa học pháùp lý chuyên ngành, bao gồm
một hệ thống những cơ sở lý luận, học thuyết khoa học, phạm trù, quan niệm về
ngành Luật Hành chính. Sự phát triển của môn khoa học này liên quan chặt chẽ đến
quá trình ra đời và phát triển của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt
động quản lý hành chính nhà nước.
1.Ðối tượng nghiên cứu
TOP
Là hoạt động quản lý hành chính nhà nước, những quan hệ hình thành trong quá
trình quản lý hành chính nhà nước và việc điều chỉnh những quan hệ ấy, hệ thống
pháp luật hành chính và hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cụ
thể như sau:
- Quản lý hành chính nhà nước, chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý hành
chính nhà nước.
- Cách thức quản lý hành chính nhà nước.
- Những phương thức nhằm bảo đảm pháp chế XHCN và kỷ luật nhà nước.

- Quản lý hành chính nhà nước trong trong lĩnh vực qui hoạch xây dựng: những
phát hiện mới mẻ trong lĩnh vực hành chính tư..
- Tố tụng hành chính và các vấn đề có liên quan.
- Quản lý hành chính nhà nước trong một số lĩnh vực của đời sống xã
hội.
2. Nhiệm vụ của khoa học luật hành chính

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước, nghiên cứu tổng kết
thực tiễn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, thực tiễn xây dựng và
áp dụng pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước, đề xuất những ý kiến nhằm
hoàn thiện các chế định pháp luật hành chính. Cải cách nền hành chính, đảm bảo
bộ máy hành chính thực sự là công bộc của nhân dân.
3. Phương pháp nghiên cứu
TOP
a. Khái niệm
Phương pháp luận của luật hành chính là cách thức tiếp cận vấn đề mà luật
hành chính điều chỉnh
b. Các phương pháp
- Theo phép duy vật biện chứng (nhìn nhận sự vật hiện tượng trong trạng thái
vận động không ngừng).
- Theo chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðặc biệt, những tác phẩm,
bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật, pháp chế; nhiệm vụ của
chính quyền các cấp, về bộ máy nhà nước, về cán bộ, về mối quan hệ giữa cán bộ
nhà nước và nhân dân... là những tài liệu hết sức quí báu cho việc định hướng
hoạt động quản lý nhà nước.
- Các nghị quyết của đại hội Ðảng Cộng Sản Việt nam với những chủ trương
đường lối, chính sách, đề ra những nguyên tắc cơ bản, những biện pháp chủ yếu
nhằm đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước, mà trước hết là bộ máy hành chính nhà
nước.
- Khoa học luật hành chính có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học xã
hội cơ bản như: triết học, kinh tế chính trị, lý luận nhà nước và pháp luật,
khoa học luật hiến pháp...
- Khoa học luật hành chính cũng có mối liên hệ mật thiết với nhiều môn khoa
học nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là khoa học quản lý. Sự phát
triển của cả các ngành khoa học này là yếu tố quan trọng góp phần và tăng cường
hiệu lực quản lý của nhà nước.
Ngoài ra, khoa học luật hành chính cũng sử dụng hàng loạt phương pháp cụ thể
để nghiên cứu về những quan hệ xã hội về hành chính như: phương pháp lịch sử,
phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống
kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thực nghiệm...

4. Nguồn tài liệu
Nghiên cứu luật hành chính và quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở đường
lối, chính sách của Ðảng, học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nhà nước "dân là gốc"
Thông qua thực tiễn của hoạt động quản lý, bổ sung và rút kinh nghiêm.

VI. MÔN HỌC LUẬT HÀNH CHÍNH.
TOP

Luật hành chính là một ngành Luật độc lập, gắn liền với sự
phát triển nhà nước và pháp luật, có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt nam. Ðể đánh giá hiệu quả hoạt động của một bộ máy nhà
nước, người ta không thể không xem xét đến hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước, cơ quan được xem là "bộ mặt" của bộ máy nhà nước, trãi dài từ trung ương
đến địa phương với đội ngũ viên chức đông đảo nhất. Luật Hành chính, vì thế là
một ngành luật có phạm vi nghiên cứu rộng, trên tất các các lĩnh vực của đời
sống xã hội về phương diện quản lý nhà nước. Môn học trang bị cho sinh viên
những kiến thức lý luận khoa học luật hành chính và khà năng áp dụng những kiến
thức thực tiễn trên một số lĩnh vực quản lý cơ bản của đời sống xã hội vào thực
tế. Trong môn học Luật Hành chính, sinh viên sẽ nghiên cứu những nội dung tương
ứng với các bốn phần sau đây:





_________________

Lhk33 hãy chung sức


____##########*________________________ __*##############______________________ __################_____________________ _##################_________**##*______ __##################_____*##########___ __##################___*#############__ ___#################*_###############*_ ____#################################*_ ______###############################__ _______#############################=__ ________=##########################____ __________########################_____ ___________*####################=______ ____________*##################________ _____________*###############__________ _______________#############___________ ________________##########_____________ ________________=#######*______________ _________________######________________ __________________####_________________ __________________###__________________ __________________##___________________ __________________#____________________
avatar
♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥
Admin

Tổng số bài gửi : 209
NHIỆT HUYẾT : 357
Cảm Ơn ! : 8
Join date : 15/02/2010
Age : 30
Đến từ : Đà Lạt

CASINO
BOYDALAT_90: 0

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by ♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥ on Mon Aug 02, 2010 11:17 am

cac nguyen tac co ban trong quan ly hanh chinh nha nuocBài
2


CÁC
NGUYÊN TẮC CƠ BẢN


TRONG
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC








  1. KHÁI NIỆM VÀ HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ
    BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.



    1. Khái niệm.


    2. Hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành
      chính nhà nước
      .





  2. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
    NƯỚC


    A. Các nguyên tắc chính trị-xã
    hội.



    1. Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành
      chính nhà nước.



    2. Nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý hành
      chính nhà nước.



    3. Nguyên tắc tập trung dân
      chủ.



    4. Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân
      tộc.



    5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
      nghĩa.



    B. Các nguyên tắc tổ chức kỹ
    thuật.




    1. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản
      lý theo địa giới hành chính.



    2. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với
      quản lý theo chức năng
      .



    3. Phân định chức năng quản lý nhà nước về
      kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh..



_______________________________________________________________________________________________

Quản lý hành chính nhà
nước là một hoạt động có mục đích. Những mục đích, mục tiêu cơ bản định ra trước
cho hoạt động quản lý và kết quả của việc đạt được mục đích, mục tiêu đó phản
ánh hiệu quả của việc quản lý. Hiệu quả của quản lý vì vậy phải được tiến hành
trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Ðặc biệt, khi Luật hành chính thực định
vẫn còn chưa được tập trung- chỉ là tập hợp các văn bản về quản lý nhà nước, tồn
tại dưới nhiều hình thức văn bản pháp lý không cao, thì nguyên tắc quản lý hành
chính nhà nước là một đòi hỏi bức thiết và sự tuân thủ hệ thống các nguyên tắc
càng đòi hỏi chặt chẽ.

I. KHÁI NIỆM VÀ HỆ
THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.


1. Khái niệm

TOP
a) Thế nào là
nguyên tắc?

Nguyên tắc trước hết được hiểu là
"Ðiều cơ bản định ra, nhất thiết phái tuân theo trong một loạt việc
làm"[1]. Trong quản lý hành chính nhà nước, các nguyên tắc cơ bản
là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý, từ
bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật làm nền tảng cho hoạt động
quản lý hành chính nhà nước.

Dưới góc độ của luật hành chính,
nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước là tổng thể những quy phạm pháp
luật hành chính có nội dung đề cập tới những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ
chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Mỗi nguyên tắc quản lý đều
có những hình thức biểu hiện khác nhau.

b) Ðược qui định ở
đâu?

Các nguyên tắc quản lý nhà nước nói
chung và những nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước nói riêng đã được quy định
trong pháp luật như quy định trong hiến pháp, luật, văn bản dưới luật. Những
nguyên tắc được quy định trong hiến pháp được xem là nguyên tắc cơ bản
nhất.

c) Ðặc điểm

1. Các nguyên tắc quản lý hành
chính nhà nước mang tính chất khách quan bởi vì chúng được xây dựng, đúc kết từ
thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách quan. Tuy nhiên, các
nguyên tắc trên cũng mang yếu tố chủ quan bởi vì chúng được xây dựng bởi con
người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng.

2. Các nguyên tắc quản lý hành
chính nhà nước có tính ổn định cao nhưng không phải là nguyên tắc bất di bất
dịch. Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh nghiệm,
thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước.

3. Tính độc lập tương đối với chính
trị. Hệ thống chính trị của nhà nước Việt nam được thực hiện thông qua: các tổ
chức chính trị xã hội (Ðảng, Mặt trận tổ quốc...), và bộ máy nhà nước (Lập pháp,
hành pháp, tư pháp). Trong hệ thống nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có cả
những nguyên tắc riêng, đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Tuy
nhiên giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ chặt
chẽ. Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý hành
chính nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước thực hiện tốt không chỉ
đòi hỏi được trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm
chính trị (chính sách).

4. Mỗi nguyên tắc quản lý hành
chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý
hành chính nhà nước. Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền
đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác. Vì thế nên các nguyên
tắc quản lý
hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống
nhất và đây là một thuộc tính vốn có của chúng.

2. Hệ thống các
nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước

TOP
Các nguyên tắc trong quản lý hành
chính nhà nước có nội dung đa dạng, có tính thống nhất và liên hệ chặt chẽ với
nhau. Vì thế cần phải xác định được chúng gồm những nguyên tắc cơ bản nào, cần
phải phân loại chúng một cách khoa học để xác định được vị trí, vai trò của từng
nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước, từ đó xây dựng và áp dụng hệ thống
các nguyên tắc một cách có hiệu quả vào thực tiễn quản lý hành chính nhà
nước.

Hoạt động quản lý hành chính nhà
nước được biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ chức, nó bao gồm hai mặt: tổ chức
chính trị và tổ chức kỹ thuật. Dựa trên những cơ sở khoa học về quản lý nhà nước
ta chia các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thành hai nhóm là
nhóm những nguyên tắc chính
trị-xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ
thuật. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố
tổ chức kỹ thuật và chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ
chặt chẽ nhau. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện
một cách đúng đắn các nguyên tắc chính trị-xã hội và việc thực các nguyên tắc
chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật.

Hệ thống các nguyên tắc quản lý
hành chính nhà nước bao gồm:

Nhóm những nguyên tắc
chính trị-xã hội

1. Nguyên tắc Ðảng
lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước;

2. Nguyên tắc nhân dân
tham gia vào quản lý hành chính nhà nước;

3. Nguyên tắc tập
trung dân chủ;

4. Nguyên tắc bình
đẳng giữa các dân tộc;

5. Nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa;

Nhóm những nguyên tắc
tổ chức kỹ thuật

6. Nguyên tắc quản lý
theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ;

7. Nguyên tắc quản lý
theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng.

8. Phân định chức năng
quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh.

II. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ
BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

A. Các
nguyên tắc chính trị-xã hội

1. Nguyên tắc Ðảng
lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

TOP
a) Cơ sở pháp

Ðiều 4-Hiến pháp 1992 quy
định: Ðảng cộng sản Việt Nam-đội ngũ tiên
phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu
trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà
nước và xã hội.

b) Nội dung nguyên
tắc

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh
đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bằng những
hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định
đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự
lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế,
văn hóa xã hội...Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác
định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức
trên lĩnh vực chuyên môn.

Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản
lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình thức hoạt động của các tổ
chức Ðảng:

1.
Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà
nước bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực
hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Trên cơ sở đường lối
chủ
trương, chính sách của Ðảng. Các chủ thể quản lý hành chính
nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ
trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà
nước. Trên thực tế, đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong nghi
quyết đại hội đại biểu Ðảng cộng sản Việt nam lần thứ VI và thứ VII và trong
Nghị quyết trung ương khoá VIII về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt nam, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính quốc gia là
kim chỉ nam cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

2.
Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện
trong công tác tổ chức cán bộ. Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng
viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy
hành
chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí những cán
bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy
nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan
xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

3.
Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua
công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng
trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả,
tính
thực tế của các chủ trương chính sách mà Ðảng đề ra từ đó
khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh
đạo.

4. Sự
lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua
uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên. Ðây là
cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà
nước.

5.
Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh
đạo của Ðảng là cơ sở
bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà
nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm
vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý.

6. Ðây là nguyên tắc
cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một cách khoa học
và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong quản
lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của
Ðảng cũng như khuynh
hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý
hành chính nhà nước. Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay
cho luật hành chính, Ðảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính
nhà nước. Các nghị quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý. Tuy nhiên,
để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo
của Ðảng.

2. Nguyên tắc nhân
dân tham gia quản lý hành chính nhà nước

TOP
a)
Cơ sở pháp lý


Ðiều 2 - Hiến pháp 1992 nêu
rõ: Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công
nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

b) Nội dung
nguyên tắc

Việc tham gia đông đảo của nhân dân
lao động vào quản lý hành chính nhà nước thông qua các hình thức trực tiếp và
gián tiếp tương ứng như sau:

1. Tham gia gián tiếp:

* Tham gia vào hoạt động của các
cơ quan nhà nước

Các cơ quan trong bộ máy nhà nước
là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, việc nhân dân tham gia vào hoạt động
của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu
quả nhất trong quản lý hành chính nhà nước. Người lao động nếu đáp ứng các yêu
cầu của pháp luật đều có thể tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào công
việc quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Người lao động có thể tham gia
trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là thành viên của cơ quan
này - họ là những đại biểu được lựa chọn thông qua bầu cử hoặc với tư cách là
các viên chức nhà nước trong các cơ quan nhà nước. Khi ở cương vị là thành viên
của cơ quan quyền lực nhà nước, người lãnh đạo trực tiếp xem xét và quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương trong đó có các vấn đề
quản lý hành chính nhà nước. Khi ở cương vị là cán bộ viên chức nhà nước thì
người lao động sẽ sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp để thực hiện vai
trò người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, có điều kiện biến những ý chí,
nguyện vọng của mình thành hiện thực nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh.

- Ngoài ra, người lao động có thể
tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực
hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực
nhà nước ở trung ương hay địa phương. Ðây là hình thức tham gia rộng rãi nhất
của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

* Tham gia vào hoạt động của
các tổ chức xã hội

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi
để nhân dân lao động tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Các
tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân lao động trong việc thực hiện
quyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Thông qua các hoạt động của các
tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy.
Ðây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở
rộng nền dân chủ ở nước ta.

2. Tham gia trực tiếp

* Tham gia vào hoạt động tự
quản ở cơ sở

- Ðây là hoạt động do chính nhân
dân lao động tự thực hiện, các hoạt động này gần gủi và thiết thực đối với cuộc
sống của người dân như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi
trường,...Những hoạt động này xảy ra ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang
tính chất tự quản của nhân dân.

- Thông qua những hoạt động mang
tính chất tự quản này người lao động là những chủ thể tham gia tích cực nhất,
quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của họ được tôn trọng và bảo đảm
thực hiện.

* Trực tiếp thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước

- Ðiều 53-Hiến pháp 1992 quy định
công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận những
vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, các tổ
chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực hiện.

- Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà
nước.

- Tham gia trực tiếp với tư cách là
thanh viên không chuyên trách trong hoạt động cơ quan quản lý, các cơ quan xã
hội.

- Tham gia với tư cách là thành
viên của tập thể lao động trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng của cơ
quan...

Việc trực tiếp thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước là một hình thức có ý
nghĩa quan trọng để nhân dân lao động phát huy vai trò làm chủ của
mình.

Ðây là nguyên tắc được nhà nước ta
thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ sâu sắc
giữ vai trò quan trọng thiết yếu trong quản lý hành chính nhà nước. Nhân dân
không chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước;
thực hiện khiếu nại tố cáo nếu cho rắng cán bộ hành chính nhà nước vi phạm quyền
lợi của họ hoặc thực hiện không đúng đắn, mà còn có quyền tự mình tham gia vào
hoạt động quản lý nhà nước, trực tiếp thể hiện quyền lợi của toàn thể nhân dân
lao động. Ðiều này này khẳng định vai trò hết sức đặc biệt của nhân dân lao động
trong quản lý hành chính nhà nước, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà nhà nước
phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động
được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Ðiểm thú vị về mặt lý luận của
nguyên tắc vì vậy chỉ có ý nghĩa khi được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Có thể
mở rộng, tăng cường quyền của công dân trong hoạt động quản lý, nhưng không được
phép hạn chế, thu hẹp những gì mà Hiến pháp đã định.

3. Nguyên tắc tập
trung dân chủ

TOP
a) Cơ sở pháp

Ðây là nguyên tắc cơ bản
trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta nên việc thực hiện quản lý hành chính
nhà nước phải tuân theo nguyên tắc này. Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định :Quốc
hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động
theo nguyên tắc tập trung dân
chủ.
b) Nội dung nguyên
tắc

Nguyên tắc tập trung dân chủ bao
hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập
trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập
trung.

¨ Tuy
nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với
những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất. Sự tập trung đó bảo đảm cho
cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực

hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của
mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương
và cơ sở. Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ. Chúng
có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý
hành chính nhà nước.

¨ Tập
trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ
quan quản lý trước cơ quan dân chủ ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ
quan quản lý các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp

trên của trung ương và quyền chủ động của cấp dưới. Ngoài ra, đó là
hệ thống "song trùng trực thuộc" của nhiều cơ quan quản lý, bảo đảm
sự kết hợp tốt nhất sự lãnh đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể
của địa phương.

¨
sự phân cấp rành mạch. Quyền lực nhà nước không phải được ban phát từ
cấp
trên xuống cấp dưới. Sự phân quyền cho từng cấp là cần
thiết nhưng phải đồng thời được kết hợp với việc xác định vai trò của từng cấp
hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã. Từ khi ra đời, mỗi cấp đã có "sứ mệnh
lịch sử" và vai trò quản lý hành chính nhà nước riêng, đặc thù. Có những chức
năng được thực hiện ở cấp dưới lại có hiệu quả hơn cấp trên, hoặc có những chức
năng tất yếu phải được thực hiện ở cấp cơ sở. Hương ước làng xã là một ví dụ.
Hương ước không thể được "lập ra" ở cấp huyện, cấp mà có thể có rất nhiều làng
xã với những tập quán và lối sống khác nhau. Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ
được biểu hiện cụ thể như sau:

-
Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy
định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước
thông
qua Quốc
hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông
qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt mình trực tiếp
thực hiện những quyền lực đó. Ðể thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà
nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ
thuộc vào các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

+ Các cơ quan quyền lực nhà nước có
những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan
hành chính nhà nước cùng cấp.

+ Trong hoạt động, các cơ quan hành
chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và
chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng
cấp.

Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục
đích bảo đảm cho hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với
ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền
lực vào cơ quan quyền lực-cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân
dân.

-
Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa
phương đối với trung ương.

Nhờ có sự phục tùng này cấp trên và
trung ương mới tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo, giám sát hoạt động của
cấp dưới và của địa phương, nếu không có sự phục tùng sẽ xảy ra tình trạng cục
bộ địa phương, tùy tiện, vô chính phủ.

+ Sự phục tùng ở đây là sự phục
tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật.

+ Mặt khác, trung ương cũng phải
tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa phương về công tác tổ chức, hoạt động và về
các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước.

+ Phải tạo điều kiện để cấp dưới,
địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, nhằm chủ động thực hiện được "thẩm quyền cấp mình". Có như thế mới khắc
phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo của
địa phương, cấp dưới.

-
Sự phân cấp quản lý.

Là sự phân định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước. Mỗi cấp quản lý có những
mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương thức cần thiết để thực hiện một
cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình.

Phân cấp quản lý là một biểu hiện
của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, việc phân cấp phải đảm bảo những
yêu cầu sau:

+ Phải xác định quyền quyết định
của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến
lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản
lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc.

+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa
phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lý, tích
cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhằm hoàn
thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó.

+ Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp
lý trên cơ sở quy định của pháp luật. Hạn chế tình trạng cấp trên gom quá nhiều
việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp dưới. Phân cấp quản lý
phải xác định chức năng cơ quan. Mỗi loại việc chỉ được thực hiện bởi một cấp cơ
quan, hoặc một vài cấp cơ quan. Cấp trên không phải lúc nào cũng thực hiện được
một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp dưới.

-
Sự hướng về cơ sở

Hướng về cơ sở là việc các cơ quan
hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt
động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa xã hội trực thuộc. Các đơn
vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật chất trực tiếp
phục vụ đời sống nhân dân. Vì thế nhà nước cần có các chính sách quản lý thống
nhất và chặt chẽ, cung cấp và giúp đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị
cơ sở hoạt động có hiệu quả. Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát
triển một cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðây cũng chính là
việc thực hiện "dân là gốc" trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

-
Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương

Các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc. Ðối
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ thuộc vào cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước cấp
trên.

Ví dụ: UBND Tỉnh A một
mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang, một mặt chịu sự chỉ đạo
của Chính phủ theo chiều dọc.

Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt
phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác
nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên
trực tiếp.

Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt
phụ thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc vào Bộ Tư pháp.

Nguyên tắc song trùng trực thuộc
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích
chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích
của lãnh thổ.

4. Nguyên tắc bình
đẳng giữa các dân tộc

TOP
a) Cơ sở pháp lý

Việt Nam là nước có nhiều dân
tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ. Các dân tộc đều có quyền bình đẳng với nhau
trong mọi lĩnh vực. "Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà nước thống nhất của các
dân tộc sinh sống trên đất nước Việt
nam
Nhà nước thực hiện chính sách
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị,
chia rẽ dân tộc". (Ðiều 5- Hiến pháp 1992)


b) Nội dung nguyên
tắc

-
Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ:

Nhà nước ưu tiên đối với con em các
dân tộc ít người, thực hiện chính sách khuyến khích về vật chất, tinh thần để họ
học tập. Số cán bộ nhà nước là người dân tộc ít người cũng chiếm một số lượng
nhất định trong cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho người dân tộc ít người cùng
tham gia quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng
của họ và các vấn đề quan trọng khác của đất nước.

-
Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh
tế-văn hóa-xã hội

+ Nhà nước chú ý tới việc đầu tư
xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở các vùng dân tộc ít
người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa các
vùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các dân
tộc ít người.

+ Nhà nước có những chính sách đúng
đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chức phân bố lại lao động một
cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít người
nâng cao về mọi mặt.

- Những ưu tiên cho
các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù đắp phần nào cho
việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều kiên
để vươn lên trong xã hội. Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng
nếu vượt khỏi phạm vi khuyến khích, động viên. Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn
sẽ dẫn đến việc cùng một vị trí giống nhau, nhưng hai khả năng không tương đồng
nhau. Ðiều này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong công việc chung cũng
như cho chính bản thân người được ưu tiên đó.

5. Nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa

TOP
a) Cơ sở pháp lý

Ðây là nguyên tắc thể hiện một
nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vì trước hết
việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp
luật. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp để phát huy
dân chủ xã hội chủ nghĩa. "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)

b) Nội dung nguyên
tắc

Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước như sau:

1. Trong lĩnh vực
lập quy

Khi ban hành quy phạm pháp luật
thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hành chính nhà nước phải tôn
trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của
hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái
với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp
luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định.

2. Trong lĩnh vực
thực hiện pháp luật

Việc áp dụng quy phạm pháp luật
phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải phù hợp với yêu
cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm
pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý
theo pháp luật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn
trọng những văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành.

3. Trong lĩnh vực
tổ chức

Ðể đảm bảo pháp chế trong quản lý
hành chính nhà nước đòi hỏi việc thực hiện pháp chế phải trở thành chức năng
quan trọng của mọi cơ quan quản lý và ngay trong bộ máy quản lý cũng phải có
những tổ chức chuyên môn thực hiện chức năng này. Vi phạm nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tổ chức là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và
nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước,
vi phạm mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau.

4. Trong việc quản
lý nói chung

Mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ
của công dân. Mọi quyết định hành chính và hành vi hành chính đều phải dựa trên
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngược lại, việc
hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định.

5.
Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp
luật

Các chủ thể quản lý hành chính nhà
nước phải chịu trách nhiệm do những sai phạm của mình trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước, xâm phạm đến lợi ích tới quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân và phải bồi thường cho công dân. Chính vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền
với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách
nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước. Cụ thể hơn, yêu
cầu của quản lý đặt dưới sự thanh tra, kiểm tra giám sát và tài phán hành chính
để pháp chế được tuân thủ thống nhất, mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý theo
đúng pháp luật. Sự kiểm tra và giám sát ấy, trước hết phải được bảo đảm thực
hiện chính từ chủ thể quản lý. Tự kiểm tra với tư cách tổ chức chuyên môn vì thế
cũng rất cần thiết như sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ qaun nhà nước tương
ứng, các tổ chức xã hội và công dân.

B. Các nguyên
tắc tổ chức -kỹ thuật

1. Nguyên tắc quản
lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính.

TOP
Ngành là một phạm trù chỉ tổng
thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh
doanh có cùng một cơ
cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích
giống nhau. Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực
hiện hoạt động quản lý theo ngành.

Quản lý theo ngành là hoạt động
quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn
hóa, xã hội có
cùng cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm
làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp
nhàng, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội. Hoạt động quản lý theo ngành
được thực hiện với hình thức, qui mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc,
trên từng địa hay một vùng lãnh thổ.

Quản lý theo địa giới hành chính là
quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính
của nhà nước. Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta được thực hiện ở bốn
cấp:

- Cấp Trung ương (cấp
nhà nước)

- Tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương;

- Huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Xã,
phường, thị trấn.

Nội dung của hoạt động quản lý theo
địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương, chính sách, có quy hoạch và kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh thổ. Bắt đầu từ qui
hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư sống và
làm việc trên lãnh thổ. Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác,
quản lý thống nhất về khoa học công nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh
tế, văn hóa, xã hội trên lãnh thổ...

Trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa
giới hành chính. Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ
với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách
nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp. Sự kết hợp này là một nguyên
tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan.
Nội dung của quản lý theo điạ giới hành chính:

+ Xây dựng qui hoạch và kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội trên lãnh thổ, nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu
quả từ trung ương tới địa phương.

+ Qui hoạch xây dựng
kết cấu hạ tầng cho sản xuất và đời sống dân cư sống và làm việc trên một địa
giới hành chính. Ðầu tư kinh tế luôn được khuyến khích và chù ý trong quá trình
lập dự án hạ tầng. Tuy nhiên, phải có kế hoạch và định hướng, tránh tình trạng
"đầu tư đi trước, qui hoạch theo sau", làm sự phát triển và an cư bị xáo trộn,
gây mất cân bằng trong quản lý kinh tế-xã hội.

+ Tổ chức điều hoà,
phối hợp, hợp tác liên doanh giữa các đơn vị kinh tế trực thuộc Trung ương về
những mặt có liên quan đến linh tế- xã hội trên địa bàn lãnh thổ; bảo đảm cho
các điều kiện ở địa phương phục vụ cho phương hướng phát triển của trung ương,
và đa dạng hoá các khả năng, ngành nghề phát triển.

+ Tổ chức, chăm lo đời
sống nhân dân trên một địa bàn lãnh thổ, không kể các nhân, tổ chức đó do Trung
ương hay địa phương quản lý. Mặt khác, bảo đảm sự chấp hành pháp luật chính sách
của địa phương, không trái với Trung ương.

2 Nguyên tắc quản
lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng

TOP
Khi thực hiện hoạt động quản lý
ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất nhiều việc chuyên môn khác
nhau như lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản lý thực hiện các khoản
thu chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật...Do khối lượng công việc
quản lý ngày càng nhiều và mang tính chất phức tạp nên đòi hỏi tính chyên môn
hóa cao, vì thế nhu cầu quản lý theo chức năng luôn được đặt ra.

Quản lý theo chức năng là quản
lý theo từng lĩnh vực chuyên môn nhất định
của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước. Cơ quan quản lý theo chức năng là cơ quan quản lý một
lĩnh vực chuyên môn hay một nhóm các lĩnh vực chuyên môn có liên quan với
nhau.

Quản lý theo ngành kết hợp với quản
lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả từng chức năng quản lý
riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồng thời bảo đảm mối quan hệ
liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ,
có hiệu quả.

Ví dụ: Trong lĩnh vực xây dựng,
có sự kết hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và
đầu tư, Bộ Giao
thông vân tải...Trong đó, Bộ Xây dựng có vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ
và các cơ quan hữu quan lập nên các dự án qui hoạch xây dựng tương ứng.

Theo quy định của pháp luật, hệ
thống các cơ quan chuyên môn được hình thành để thực hiện việc quản lý theo chức
năng. Theo hệ thống dọc có bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chức năng, chịu
sự quản lý của cơ quan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên. Nguyên
tắc này thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong
việc thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể:

- Các cơ
quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy phạm pháp luật, các mệnh
lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp
luật, có tính chất bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan quản lý chuyên
ngành.

- Các cơ
quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ trương
do mình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các
chính sách, chủ trương đó theo quy định của pháp luật.

Có thể nói nguyên tắc quản lý theo
ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một nguyên tắc có tầm quan trọng rất
lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó giúp cho hoạt động của bộ
máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau. Nếu thiếu sự liên
kết này, hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

3. Phân
định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh.

TOP
Theo Hiến pháp 1992
nước CHXHCN Việt nam, nền kinh tế nước ta là "nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN"
(Ðiều 15). Liên quan đến chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, có các vấn đề
sau:

1. + Tuy nắm quyền sở
hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nhà nước không phải là người trực tiếp kinh
doanh. Các cơ quan nhà nước định ra chiến lược, qui hoạch và định hướng kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý ổn định vững
chắc. Các tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ chấp hành và cụ thể hoá chiến lược và
kế hoạch kinh tế- xã hội của nhà nước, thực hiện cơ chế kinh doanh, tiêu chuẩn,
định mức của nhà nước, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.

2. + Nhà nước có chức
năng tổ chức và điều chỉnh nền kinh tế quốc dân bằng những biện pháp vĩ mô:
thông qua các biện pháp kinh tế, hành chính, tạo khung cho cạnh tranh lành mạnh
trong sản xuất kinh doanh. Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện kinh doanh
như: xây dựng, vận tải, ngân hàng... trong phạm vi vĩ mô, nhằm tạo nhiều của cải
vật chất thiết yếu cho xã hội, tránh sự độc quyền của tư nhân, có thể ảnh hưởng
không tốt đến nền kinh tế quốc dân.

3. + Khác với các mối
quan hệ trong hoạt động chấp hành điều hành, các quan hệ trong hoạt động kinh
doanh của các tổ chức kinh doanh được điều chỉnh bình đẳng theo quan hệ pháp
luật dân sự, luật thương mại.

4. + Nếu các cơ quan
nhà nước hoạt động bằng ngân sách nhà nước, thì các tổ chức kinh doanh là những
tổ chức độc lập tự chủ về tài chính, tự cấp vốn và hạch toán kinh tế.

5. + Việc quản lý
trong hành lang pháp lý chặt chẽ thông qua các cơ quan quản lý hành chính nhà
nước sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế thuận lợi, thông thoáng, tự chủ
và đạt hiệu quả cao.

CÂU HỎI

1. Thế nào là nguyên
tắc? Giải thích các đặc điểm của hệ thống các nguyên tắc?

2. Tại sao việc quản
lý hành chính nhà nước phải tuân thủ hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính
nhà nước? Theo anh (chị), nguyên tắc nào là quan trọng nhất trong hệ thống các
nguyên tắc trên? Giải thích tại sao?

_________________

Lhk33 hãy chung sức


____##########*________________________ __*##############______________________ __################_____________________ _##################_________**##*______ __##################_____*##########___ __##################___*#############__ ___#################*_###############*_ ____#################################*_ ______###############################__ _______#############################=__ ________=##########################____ __________########################_____ ___________*####################=______ ____________*##################________ _____________*###############__________ _______________#############___________ ________________##########_____________ ________________=#######*______________ _________________######________________ __________________####_________________ __________________###__________________ __________________##___________________ __________________#____________________
avatar
♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥
Admin

Tổng số bài gửi : 209
NHIỆT HUYẾT : 357
Cảm Ơn ! : 8
Join date : 15/02/2010
Age : 30
Đến từ : Đà Lạt

CASINO
BOYDALAT_90: 0

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by ♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥ on Mon Aug 02, 2010 11:18 am

quy pham va quan he phap luat hanh chinh
Bài 3:

QUY
PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH






  1. QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH.



    1. Khái niệm và đặc điểm của quy phạm pháp
      luật hành chính.



    2. Nội dung của quy phạm pháp luật hành
      chính.



    3. Phân loại quy phạm pháp luật hành chính.



    4. Hiệu lực và vấn đề thực hiện quy phạm pháp
      luật hành chính.





  2. QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH.



    1. Khái niệm và đặc điểm của quan
      hệ pháp luật hành chính.



    2. Cấu thành của quan hệ pháp
      luật hành chính.



    3. Phân loại quan hệ pháp
      luật hành chính.



_______________________________________________________________________________________________

I. QUY PHẠM PHÁP LUẬT
HÀNH CHÍNH.

1. Khái niệm và đặc
điểm của quy phạm pháp luật hành chính

TOP
a). Khái niệm

Trước hết, qui phạm được hiểu là
điều qui định chặt chẽ phải tuân theo. Trong đời sống hàng ngày, ta vẫn thường
gặp những khái niệm như qui phạm đạo đức, qui phạm pháp luật. Tuy nhiên, khác
với qui phạm đạo đức, qui phạm pháp luật được ban hành bởi nhà nước và mang tính
cưỡng chế nhà nước. Ðể thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều
chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động quản lý hành chính nhà nước chính là quy phạm pháp luật hành
chính.

Như vậy, quy phạm pháp luật hành
chính là các quy tắc xử sự chung do cơ quan Nhà nước, các cán bộ nhà nước có
thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong
lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước (hay còn gọi là hoạt động chấp hành - điều
hành của Nhà nước) có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối tượng có liên
quan.

b). Ðặc điểm của quy phạm
pháp luật hành chính

Qua khái niệm trên cho thấy quy
phạm pháp luật hành chính là một trong những dạng quy phạm pháp luật và nó có
những đặc điểm sau:

1.
qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung. Giống như các qui phạm pháp
luật
khác, qui phạm pháp luật hành chính có hiệu lực bắt buộc
thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng sự
cưỡng chế nhà nước. Những qui phạm này xác định hành vi của cacù đối
tượng
có liên quan: được làm gì, không được làm gi và làm như thế nào. Các
qui tắc xử sự này được ban hành theo thủ tục, trình tự chắt chẽ theo pháp luật.
Khi có một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể tương ứng phát sinh, qui tắc xử
sự chung trên sẽ là căn cứ để ra văn bản áp dụng. Tuy vậy, dù có hay chưa có văn
bản áp dụng, qui phạm pháp luật trên vẫn tồn tại và không mất đi giá trị pháp lý
trừ khi hết hiệu lực.

2.
Ðược ban hành bởi những cơ quan nhà nước và cán bộ nhà
nước có thẩm quyền ở
các cấp khác nhau với, mục đích cụ thể hóa
các quy phạm pháp luật hành chính của các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ
quan nhà nước cấp trên. Vì các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực nhà
nước ban hành trong lĩnh vực quản lý hành chính mới chỉ quy định một cách chung
nhất nên chúng đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực của quản lý hành
chính.

Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính được Uớy ban thường vụ Quốc hội
thông qua ngày
6/7/1995 quy định một cách chung nhất về vấn đề xử lý vi phạm hành chính. Dựa
trên những quy định chung này, Chính phủ ban hành một loạt các văn bản quy phạm
pháp luật hành chính quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong từng lĩnh
vực khác nhau, đó là các Nghị định số 87, 88/CP ngày 12/12/1995 quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa-xã hội; Nghị định số 01/CP ngày
3/1/1996 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại
v.v...

3.
Tính thống nhất: mặc dù quy phạm pháp luật hành chính
được ban hành bởi những cơ quan khác nhau, có hiệu lực pháp lý cũng như phạm vi
thi hành khác
nhau nhưng về cơ bản chúng hợp thành một hệ thống
thống nhất. Tính thống nhất của các quy phạm pháp luật hành chính được bảo đảm
bởi hệ thống các nguyên tắc trong luật hành chính, đặc biệt là nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc tập trung dân chủ. Những nguyên tắc này đòi
hỏi:

+ Các quy phạm pháp luật hành chính
do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, Nghị
quyết và Pháp lệnh của các cơ quan quyền lực nhà nước.

+ Những quy phạm pháp luật hành
chính do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải
phù hợp với những quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chung ban hành.

+ Các quy phạm pháp luật hành chính
phải được ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức pháp luật đã quy
định.

+ Việc ban hành các quy phạm pháp
luật hành chính của cơ quan cấp dưới đòi hỏi phải phù hợp với những quy phạm
pháp luật hành chính do cấp trên ban hành.

+ Các quy phạm pháp luật hành chính
do cơ quan địa phương ban hành để thi hành ở địa phương phải phù hợp với quy
phạm pháp luật hành chính do các cơ quan ở trung ương ban hành để thi hành trong
cả nước.

4.
Những qui phạm pháp luật hành chính ban hành chủ yếu
điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hành chính nhà nước.
Ðiều này đồng nghĩa với sẽ có những văn bản thứ yếu phát
sinh trong lĩnh vực khác
của nhà nước. Thật vậy, ngoài
việc xác định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực lao
động, luật hành chính đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội
liên quan đến việc tổ chức quá trình lao động và chế độ công vụ...

5. Các
quy phạm pháp luật hành chính được đặt ra, sửa đổi hay bãi bỏ trên cơ sở những
quy luật phát triển khách quan của xã hội và những đặc điểm cụ thể trong từng
giai đoạn. Hiện nay, qui phạm pháp luật Hành chính là tổng hợp các qui phạm về
quản lý nhà nước trong các lĩnh vực tương ứng với các
lĩnh vực
quản lý của đời sống xã hội. Vì vậy, qui phạm pháp luật hành chính hiện tại được
ban hành bởi khá nhiều cơ quan, có hiệu lực pháp lý khác nhau và thi hành khác
nhau, cũng như tính ổn định các văn bản này không cao. Tuy nhiên,
đây không phải là bản chất của qui phạm pháp luật hành chính. Tuy tính đa dạng
về văn bản các cấp gắn liền với qui phạm hành chính, nhưng về
lâu dài sẽ phải có một Bộ Luật hành chính hoặc Luật hành
chính thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ chung nhất chứa đựng
một cách có hệ thống hơn các qui phạm pháp luật hành chính.

2. Nội dung của quy
phạm pháp luật hành chính

Các quy phạm pháp luật hành chính
có thể có những nội dung cơ bản sau:

- Quy phạm pháp luật hành chính quy
định địa vị pháp lý của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước tức
là xác định quyền và nghĩa vụ cũng như mối liên hệ chủ yếu giữa các bên tham gia
quan hệ quản lý hành chính nhà nước. Ðiều này liên quan trực tiếp tới bản thân
quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Ta có các trường hợp sau:

+ QPPL hành chính
trong quan hệ pháp luật hành chính công: chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà
nước- chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước.

+ QPPL hành chính
trong quan hệ pháp luật hành chính tư: chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà
nước- chủ thể không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc tham gia không với tư
cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước.

- Quy phạm pháp luật hành chính xác
định những thủ tục, trình tự cần thiết cho việc thưc hiện quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính và một số quan hệ pháp luật khác
như quan hệ pháp luật lao động, tài chính, đất đai...

- Quy phạm pháp luật hành chính xác
định các biện pháp khen thưởng và các biện pháp cưỡng chế hành chính đối với các
đối tượng quản lý.

3. Phân loại quy
phạm pháp luật hành chính

TOP
Ðể phân loại các quy phạm pháp luật
hành chính có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, trong giới hạn
của chương trình học ta chỉ phân loại dựa trên một số tiêu chí chủ yếu. Các tiêu
chí đó là các căn cứ về nội dung pháp lý, về tính chất của những
quan hệ được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, về thời gian áp dụng, cơ
quan ban hành cũng như căn cứ vào phạm vi hiệu lực pháp lý của các
quy phạm hành chính.

a) Căn cứ vào nội dung
pháp lý của quy phạm pháp luật hành chính ta có ba loại quy phạm:

+ Quy phạm đặt nghĩa vụ: là quy
phạm buộc các đối tượng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất
định.

+ Quy phạm trao quyền: là quy phạm
trao quyền cho các đối tượng có liên quan quyền thực hiện những hành vi nhất
định. Qui phạm trao quyền được thể hiện rõ trong quan hệ pháp luật hành chính
công khi cấp trên ban hành qui phạm trao quyền cho cấp dưới.

+ Quy phạm ngăn cấm: là quy phạm
buộc các đối tượng có liên quan tránh thực hiện những hành vi nhất định.

b) Căn cứ vào tính
chất của những quan hệ được điều chỉnh ta có hai loại quy phạm:

+ Quy phạm nội dung: là quy phạm
quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà
nước.

+ Quy phạm thủ tục: là quy phạm quy
định trình tự thủ tục mà các bên phải tuân theo trong khi thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình.

c) Căn cứ vào cơ quan
ban hành ta có các quy phạm sau:

+ Những quy phạm do cơ quan
quyền lực nhà nước ban hành.

+ Những quy phạm do Chủ tịch
nước ban hành.

+ Những quy phạm do Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban
hành.

+ Những quy phạm do cơ quan hành
chính nhà nước ban hành.

+ Những quy phạm do các cơ quan
nhà nước và tổ chức chính trị-xã hội phối hợp ban hành.

Lưu ý rằng qui phạm pháp luật hành
chính không chỉ được ban hành bởi cơ quan hành chính nhà nước, mà cả các cơ quan
khác trong hệ thống cơ quan nhà nước.

Ví dụ: Quốc hội (hệ thống cơ quan
dân cử), Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (hệ thống cơ quan tư pháp).

Tuy nhiên, tất cả các văn bản của
các tổ chức xã hội với tư cách độc lập của tổ chức xã hội đó, trong mọi trường
hợp, không được xem là văn bản QPPL hành chính.

Ví dụ: Văn kiện của Ðảng Cộng sản
Việt nam có tính chất chỉ đạo cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhưng
hoàn toàn không phải là văn bản QPPL hành chính.

d) Căn cứ vào thời
gian áp dụng chúng ta có ba loại quy phạm, đó là: quy phạm áp dụng lâu dài, quy
phạm áp dụng có thời hạn và những quy phạm tạm thời.

+ Quy phạm áp dụng lâu dài: là quy
phạm mà trong văn bản ban hành chúng không ghi thời hạn áp dụng, do vậy, chúng
chỉ hết hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền tuyên bố bãi bỏ hay thay thế chúng
bằng những quy phạm khác.

+ Quy phạm áp dụng có thời hạn: là
những quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng có ghi thời hạn áp dụng. Thường
là những quy phạm được ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh
trong tình huống đặc biệt, khi tình huống này không còn thì quy phạm cũng hết
hiệu lực.

Ví dụ: Quyết định về 5 biện pháp
phòng chống lũ của tỉnh Cần thơ năm 2001, chỉ áp dụng cho việc phòng chống mùa
lũ của năm 2001 của tỉnh Cần thơ.

+ Quy phạm tạm thời: là những quy
phạm được ban hành để áp dụng thử. Nếu sau thời gian áp dụng thử mà xét thấy nó
phù hợp thì sẽ ban hành chính thức. Có những trường hợp được ban hành thí điểm,
áp dụng giới hạn ở một số địa phương nhất định. Sau một thời gian đánh giá hiệu
quả hoạt động trên thực tế, sẽ ban hành đồng loạt.

Ví dụ: Văn bản QPPL về xoá đói giảm
nghèo ở TP HCM, về thí điểm thực hiện một cửa một dấu ở TP HCM.

e) Căn cứ vào phạm vi
hiệu lực pháp lý ta có hai loại sau:

+ Quy phạm pháp luật hành
chính có hiệu lực trên phạm vi cả nước.

+ Quy phạm pháp luật hành chính có
hiệu lực pháp lý ở từng địa phương.

Việc phân loại này sẽ được phân
tích cụ thể trong phần sau về hiệu lực của QPPL hành chính.

4. Hiệu lực và vấn
đề thực hiện quy phạm pháp luật hành chính

TOP
a/. Hiệu lực của quy phạm
pháp luật hành chính

Quy phạm pháp luật hành chính có
hiệu lực về thời gian và không gian.

· Hiệu
lực về thời gian

- Ðối với những quy
phạm pháp luật hành chính được quy định trong văn bản luật, nghị quyết của Quốc
hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày
Chủ tịch nước ký lệnh công bố (trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có
hiệu lực khác).

Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính được chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 06/07/1995, có qui định văn bản
pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/08/1995.

- Ðối với những quy
phạm pháp luật hành chính được quy định trong văn bản pháp luật của Chủ tịch
nước (lệnh, quyết nghị) thì có hiệu lực kể từ ngày đăng công báo (trừ trường hợp
văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác).

- Ðối với quy phạm
hành chính được quy định trong văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ thì có hiệu
lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

- Quy phạm pháp luật
hành chính hết hiệu lực khi đã hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn
bản đó hay được thay thế bằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn
bản đó hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.

- Qui phạm pháp luật
hành chính của UBND các cấp có hiệu lực kể từ ngày kí trừ trường hợp có qui định
có hiệu lực về sau trong văn bản QPPL

· Hiệu
lực về không gian

- Ðối với những quy
phạm pháp luật hành chính do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành thì có
hiệu lực trong phạm vi cả nước (trừ trường hợp có quy định khác, ví dụ quản lý
khu vực biên giới, vùng đặc khu kinh tế).

Ví dụ: Nghị quyết
của Quốc hội thì có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả
nước.


- Ðối với những quy
phạm pháp luật hành chính do Hội đồng nhân dân, Uớy ban nhân dân
các cấp ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi từng địa phương nhất định.

Ví dụ: Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân tỉnh Cần Thơ thì chỉ có hiệu lực pháp lý
trên phạm vi
tỉnh Cần Thơ.

- Quy phạm pháp luật
hành chính cũng có hiệu lực pháp lý đối với các cơ quan, tổ chức và người nước
ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam hay điều ước quốc tế mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

b/. Việc thực hiện quy phạm
pháp luật hành chính

Thực hiện quy phạm pháp luật hành
chính là việc dùng quy phạm pháp luật hành chính để tác động vào hành vi của các
bên tham gia quan hệ quản lý nhà nước, được biểu hiện dưới hai hình thức là chấp
hành và áp dụng quy phạm pháp luật hành chính.

1. Chấp hành quy phạm pháp luật
hành chính: là việc các cơ quan, tổ chức và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu
của quy phạm pháp luật hành chính. Các chủ
thể của quan hệ pháp
luật hành chính thưc hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật hành chính trong
những trường hợp sau:

+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà
quy phạm pháp luật hành chính cho phép;

+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà
quy phạm pháp luật hành chính buộc phải thực hiện;

+ Khi không thực hiện những hành vi
mà quy phạm pháp luật hành chính cấm thực hiện.

2. Áp dụng quy phạm pháp luật
hành chính: là việc cơ quan có thẩm quyền của nhà
nước căn cứ
vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá
trình quản lý hành chính nhà nước. Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính
cụ thể- quan hệ pháp luật hành chính tư. Chúng liên quan trực tiếp tới việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ quản lý hành chính nhà
nước, đặc biệt là đối với tổ chức, công dân. Do vậy, việc áp dụng quy phạm pháp
luật hành chính phải tuân theo những yêu cầu sau:

+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật
hành chính phải tuân theo những yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa và đảm bảo nhân dân lao động có điều kiện tham gia vào quản lý nhà nước
theo Ðiều 12 và Ðiều 53 Hiến pháp 1992. Vì áp dụng quy phạm pháp luậỷt hành
chính là hoạt động của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tất cả
những vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân.

+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật
hành chính trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp
luật hành chính cụ thể, vì vậy phải được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền của
nhà nước và phải được tiến
hành theo đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn
pháp luật quy định, phải xem xét, giải quyết đúng hạn các yêu cầu nhận được, trả
lời công khai, chính thức về kết quả giải quyết cho các đối tượng có liên
quan.

Ví dụ: Ðiều 36 Luật khiếu nại tố
cáo 02/12/98, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong thời hạn 30 ngày (nếu phức tạp, không quá 45 ngày).

+ Kết quả áp dụng quy phạm pháp
luật hành chính phải được thể hiện bằng văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và việc áp dụng chỉ được coi là hoàn thành khi quyết định của cơ quan áp
dụng pháp luật được

chấp hành trong thực tế.

c./ Mối quan hệ giữa chấp
hành và áp dụng quy phạm pháp luật hành chính

Chấp hành và áp dụng quy phạm pháp
luật hành chính có mối quan hệ hữu cơ với nhau, được tiến hành song song trong
thực tiễn cuộc sống. Mối quan hệ này được thể hiện:

1. Chấp hành- áp dụng: Chấp hành
là tiền đề, là cơ sở của áp dụng quy phạm pháp
luật hành chính,
từ việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính dẫn đến áp dụng quy phạm pháp
luật hành chính;

Ví dụ: công dân chấp hành các
quy định về thuế của nhà nước, đã nộp thuế đầy đủ
dẫn đến áp
dụng quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Không chấp hành- áp dụng:
Có trường hợp không chấp hành quy phạm pháp luật hành chính dẫn đến việc áp dụng
quy phạm pháp luật hành chính.


Ví dụ: không chấp hành luật lệ
giao thông dẫn tới việc xử phạt vi phạm hành
chính.

3. Aùp dụng- chấp hành: Trong nhiều
trường hợp khác, áp dụng quy phạm pháp luật hành chính lại là tiền đề, cơ sở của
việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính.

Ví dụ: Một cơ quan cấp giấy phép
cho một đơn vị sản xuất thì việc cấp giấy phép
là hành động áp
dụng quy phạm pháp luật hành chính, còn việc không vi phạm những điều ghi trong
giấy phép là hành động chấp hành quy phạm pháp luật hành chính. Thế nhưng, nếu
đơn vị đó không chấp hành thì tất yếu sẽ dẫn đến việc áp dụng quy phạm pháp luật
hành chính.

II. QUAN HỆ PHÁP LUẬT
HÀNH CHÍNH.

1. Khái niệm và đặc
điểm của quan hệ pháp luật hành chính

TOP
a./ Khái niệm

Quan hệ pháp luật hành chính là một
dạng của quan hệ pháp luật. Ðó là những quan hệ xã hội phát sinh chủ yếu trong
lĩnh vực chấp hành điều hành giữa một bên mang quyền lực nhà nước có chức năng
quản lý hành chính nhà nước và một bên là đối tượng quản lý. Các quan hệ này
được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật hành chính. Trong một quan hệ pháp
luật hành chính thì quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.
Chúng rất phong phú và đa dạng, phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.

Như vậy, quan hệ
pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành
và điều hành của nhà nước được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật hành chính giữa
những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật
hành chính.

b./Ðặc điểm của quan hệ pháp
luật hành chính.

Căn cứ vào những đặc trưng riêng
của quan hệ pháp luật hành chính, ta thấy quan hệ pháp luật hành chính có những
đặc điểm sau:

- Quan hệ pháp luật
hành chính chủ yếu chỉ phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước
trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, luôn gắn
liền với hoạt động
chấp hành và điều hành của nhà nước, chúng vừa thể hiện lợi ích của các bên tham
gia quan hệ vừa thể hiện những yêu cầu và mục đích của hoạt động chấp hành -
điều hành.

- Quan hệ pháp luật
hành chính có thể phát sinh giữa tất cả các loại chủ thể như cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội, công dân, người nước ngoài...nhưng ít nhất một bên trong quan hệ
phải là cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan nhà nước khác hoặc tổ chức,
cá nhân được trao quyền quản lý. Ðiều này có nghĩa là quan hệ giữa công dân với
công dân, tổ chức
với tổ chức hay tổ chức với một công dân nào đó (không
mang quyền lực hành chính nhà nước) thì không thể hình thành quan hệ pháp luật
hành chính.

- Quan hệ pháp luật
hành chính có thể phát sinh do đề nghị hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thỏa
thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc cho sự hình thành quan hệ
.

- Các tranh chấp phát
sinh trong quan hệ pháp luật hành chính phần lớn được giải quyết theo trình
tự, thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà
nước.

- Trong quan hệ pháp
luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước chứ không
phải chịu trách nhiệm trước bên kia của quan hệ pháp luật hành
chính.

2. Cấu thành của
quan hệ pháp luật hành chính

TOP
a./ Chủ thể của quan hệ pháp
luật hành chính

Chủ thể của quan hệ pháp luật
hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, có năng lực
chủ thê,ứ có quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau theo quy định của pháp
luật hành chính.

Chủ thể của quan hệ pháp luật
hành chính bao gồm: cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị
kinh tế, công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không quốc tịch. Trong đó,
có một loại chủ thể luôn luôn hiện diện trong mọi quan hệ pháp luật
hành chính: chủ thể quản lý-bên có thẩm quyền hành chính nhà nước.

* Chủ thể quản lý
hành chính nhà nước: là các cá nhân hay tổ chức của
con
người mang quyền lực hành chính nhà nước, nhân danh nhà
nước và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. "Mang quyền lực nhà
nước" ở đây cần hội đủ 2 yếu tố sau:

- Có thẩm quyền hành chính nhà nước
do pháp luật qui định;

- Tham gia vào quan hệ pháp luật
hành chính với tư cách của chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước, không vượt
ra khỏi thẩm quyền đã được luật định;

Nói lên điều này để
phân biệt rạch ròi "vai trò" của một chủ thể nhất định trong những trường hợp cụ
thể nhất định. Trường hợp chủ thể A là chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà
nước, nhưng tham gia vào quan hệ không với tư cách thẩm quyền ấy, thì không thể
hình thành quan hệ pháp luật hành chính với A là chủ thể quản lý

Ví dụ: Nguyễn Văn A là chủ tịch
UBND huyện B, có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông trong khi điều khiển
phương tiên xe 2 bánh. Trường hợp này, A phải chịu xử lý theo pháp luật hành
chính như tất cả các cá nhân khác vi phạm trật tư an toàn giao thông.

Chủ thể bắt buộc trong quan hệ
pháp luật hành chính có quyền nhân danh Nhà nước để đơn phương ra những mệnh
lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ thể để
giải quyết công việc cụ thể) buộc phía
bên kia phải thực hiện.
Ðây là một đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật hành chính so với các quan hệ
pháp luật khác. Ðiều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
là phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính. Chủ thể
này có thể là:

- Cơ quan hành chính
nhà nước, cán bộ hành chính nhà nước. Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ pháp luật
hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một cơ quan.

Ví dụ: Quan hệ pháp luật giữa UBND
Tỉnh A với UBND Huyện B tương ứng trực thuộc là quan hệ pháp luật hành chính.
Tuy nhiên, quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước với thư ký của cơ
quan đó trong việc "nhờ" cô thư ký đánh máy một công văn thì không phái là quan
hệ pháp luật hành chính. Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng là quan
hệ công tác nội bộ của cơ quan.

- Cơ quan nhà nước khác, cá nhân,
tổ chức xã hội tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể với tư cách là bên có
thẩm quyền hành chính nhà nước được qui định trong pháp luật hành chính.

Ví dụ: Theo Ðiều 35[1]
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995, chủ toạ phiên toà có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây rối tại phiên toà. Trong
quan hệ này, toà án (cơ quan tư pháp) được trao thẩm quyền hành chính nhà nước,
vì thế đây là quan hệ pháp luật hành chính với chủ thể quản lý là toà án.

* Chủ thể của quản
lý hành chính nhà nước:

Là một bên trong quan hệ pháp luật
hành chính, chịu sự quản lý, chấp hành mệnh lệnh của chủ thể quản lý. Trong quan
hệ pháp luật hành chính, đây có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia không
với tư cách có quyền lực hành chính nhà nước; hoặc cá nhân công dân, các tổ chức
kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội không mang quyền lực hành chính nhà
nước. Theo pháp luật Việt nam:

- "Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà
nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân". (Ðiều 2 Hiến pháp 1992)

- "Nhà nước bảo đảm và không ngừng
phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân". (Ðiều 3 Hiến pháp 1992)

- "Công dân có quyền tham gia vào
quản lý nhà nước..." (Ðiều 53 Hiến pháp 1992).

Do đó, công dân Việt nam không chỉ
là chủ thể của quản lý mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quản lý nhà
nước, làm cho mục đích của quản lý hành chính ngày càng thể hiện rõ hơn lợi ích
và nguyện vọng của nhân dân.

b. Khách thể của quan hệ pháp
luật hành chính

Là trật tự quản lý hành chính nhà
nước. Trật tự này được quy định trong từng lĩnh vực cụ thể và khi tham gia vào
quan hệ này, đối tượng mà các chủ thể mong muốn hướng tới là những lợi ích về
vật chất hoặc những lợi ích phi vật chất, nó đóng vai trò là yếu tố định hướng
cho sự hình thành và vận động của một quan hệ pháp luật hành chính. ở đây có sự
khác nhau về khách thể của quan hệ pháp luật hành chính công và tư.

c. Cơ sở của sự phát sinh,
thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính

Quan hệ pháp luật hành chính chỉ
phát sinh, thay đổi hay chấm dứt khi có đủ ba điều kiện:

- Quy phạm pháp luật
hành chính;

- Năng lực chủ thể
hành chính;

- Sự kiện pháp lý hành
chính.

* Quy phạm pháp
luật hành chính: Là cơ sở ban đầu cho sự phát sinh, thay đổi
hay
chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính, bởi vì quan hệ pháp
luật hành chính quy định:

- Ðiều kiện và hoàn
cảnh phát sinh quan hệ pháp luật hành chính;

- Quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể;

- Các biện pháp xử lý
những trường hợp vi phạm.

Như vậy, quy phạm pháp luật hành
chính quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quản lý hành chính nhà
nước, quy định nội dung những quy tắc xử sự của các bên tham gia quan hệ, do đó
nếu không có các chủ thể thì quan hệ pháp luật hành chính không thể phát sinh,
thay đổi hay chấm dứt, bản thân nó không tạo ra được quan hệ pháp luật hành
chính mà phải có những tình huống, những điều kiện cụ thể khác như chủ thể, sự
kiện pháp lý ...

* Sự kiện pháp lý hành
chính: là những sự kiện thực tế mà khi xảy ra làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
pháp lý hành chính. Hay nói cách khác, sự kiện pháp lý hành chính là những sự
kiện xảy ra trong thực tế phù hợp với những điều kiện mà quy phạm pháp luật hành
chính dự liệu trước.

Sự kiện pháp lý có hai loại: sự
kiện pháp lý ý chí và sự kiện pháp lý phi ý chí.

*Sự kiện pháp lý ý chí là những sự
kiện xảy ra tùy thuộc vào ý chí của con người.

Ví dụ: cố ý chạy xe vượt tuyến,
cố ý làm sai lệch hồ sơ...

* Sự kiện pháp lý phi ý chí (còn
gọi là sự biến) là những sự kiện xảy ra không phụ thuộc vào ý chí con người, nó
mang yếu tố khách quan.

Ví dụ: lũ lụt, bão, cái chết tự
nhiên của con người...

3. Phân loại quan
hệ pháp luật hành chính

TOP
Căn cứ chủ yếu vào
yếu tố chủ thể và một phần khách thể của quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ
pháp luật hành chính được phân thành 2 loại
chính yếu:
a) Quan hệ pháp
luật hành chính công

¨ Chủ
thể quản lý và chủ thể của quản lý:

· Ðối với
chủ thể là cơ quan nhà nước thì năng lực chủ thể xuất hiện từ khi cơ quan đó
được chính thức thành lập và ấn định thẩm quyền, đồng thời chấm dứt khi cơ quan
đó bị giải thể.

· Ðối với
chủ thể là cán bộ có thẩm quyền thì

* năng lực pháp luật
xuất hiện từ khi cán bộ đó được chính thức bổ nhiệm hay Nhà nước giao cho một
chức vụ nhất định trong bộ máy Nhà nước.

* năng lực hành vi là
khả năng thực hiện những hành vi trong phạm vi năng lực pháp luật của quyền hạn,
chức vụ được bổ nhiệm.

· Ðối với
chủ thể là tổ chức xã hội được giao thẩm quyền hành chính nhà nước, thì năng lực
chủ thể xuất hiện từ khi tổ chức đó được chính thức thành lập và ấn định thẩm
quyền theo nội dung công việc cố định, chu kì hoặc theo tình huống cụ thể; thẩm
quyền này chấm dứt khi tổ chức đó không còn được ấn định thẩm quyền hành chính
nhà nước

b) Quan hệ pháp
luật hành chính tư

a Chủ thể quản lý:
giống như chủ thể quản lý của quan hệ pháp luật hành chính
công


b Chủ thể của quản
lý:

· Ðối với
chủ thể là tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế thì năng lực chủ thể xuất hiện khi Nhà
nước quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế đó.

· Ðối với
chủ thể là công dân Việt Nam thì thời điểm xuất hiện năng lực pháp luật và năng
lực hành vi khác nhau.

- Năng lực pháp
luật hành chính của công dân xuất hiện khi công dân đó sinh ra
chấm dứt khi công dân đó chết đi. Ðó làỡ khả năng hưởng các
quyền và nghĩa vụ nhất định do luật hành chính quy định cho cá nhân. Ví dụ:
quyền bầu cử, ứng cử, quyền học tập...

- Còn
năng lực hành vi hành chính của công dân là năng lực của công dân thực hiện được
các quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế . Năng lực đóù xuất

hiện khi công dân đạt một độ tuổi nhất định hay có sức khỏe, trình độ, chuyên
môn nghiệp vụ, lí lịch cá nhân...Nói cách khác, đó là khả năng bằng hành vi cá
nhân của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quản lý hành chính Nhà nước
và được Nhà nước thừa nhận.

Ðối với các chủ thể cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, hoặc cá nhân có thẩm quyền hành chính nhà nước nhưng tham
gia vào quan hệ pháp luật hành chính cụ thể không với tư cách ấy thì vẫn là chủ
thể của quản lý và có năng lực pháp luật hành chính tương ứng như các chủ thể
của quản lý trong quan hệ pháp luật hành chính tư.

c) Mục đích của việc phân
chia quan hệ pháp luật hành chính "công" và "tư"

- Nhận ra được sự khác nhau của chủ
thể và khách thể của quan hệ pháp luật hành chính, từ đó có phương pháp điều
chỉnh hợp lý hơn.

+ Hành chính công: mệnh lệnh phục
tùng theo thể thức quản lý hành chính.

+ Hành chính tư: quyết định của cơ
quan hành chính nhà nước phải bảo đảm hợp pháp và hợp lý, thực sự đáp ứng nhu
cầu của người dân.

- Thấy rõ được phạm vi điều chỉnh
của luật hành chính ở tầm rộng, nhận ra bản chất các mối quan hệ pháp luật có
nguồn gốc hoặc có khả năng được điều chỉnh, hoặc quan hệ trực tiếp với quan hệ
pháp luật hành chính.

Ví dụ: Luật đất đai là "ngành luật
quản lý nhà nước về đất đai", tức là quan hệ pháp luật hành chính ở phương diện
quản lý nhà nước.

- Tăng cường sự tham gia của nhân
dân vào hoạt động quản lý nhà nước phù hợp theo từng lĩnh vực. Ðặc biệt là sự
tham gia trực tiếp vào việc xây dựng những qui định trong quan hệ pháp luật hành
chính tư ở địa phương mình.

Ví dụ: Ðồ án qui hoạch

+ Trước khi qui hoạch
(dự thảo đồ án)

+ Sau khi qui hoạch
(khiếu nại, khiếu kiện nếu ảnh hưởng đến quyền lợi)

- Khẳng định mục đích chính của
quản lý nhà nước là hướng tới nhân dân, với vai trò là "công bộc" của nhân dân,
cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm phải phục vụ, đáp ứng những nhu cầu
và quyền lợi hợp pháp của công dân.

- Cải cách hành chính: "cắt khúc"
quan hệ pháp luật hành chính theo từng đoạn, xem thủ tục nào còn rườm rà, khâu
nào còn chưa hợp lý để có sự cải cách thích hợp, góp phần vào việc cải cách
chung "toàn khâu" thể chế hành chính:

+ Thủ tục quan hệ pháp luật hành
chính công: Trước hết phải gọn, đồng bộ.

+ Thủ tục của quan hệ pháp luật
hành chính tư: Trước hết phải nhanh chóng, "phục vụ" và không gây phiền hà cho
nhân dân. Thực hiện "một cửa một dấu" là một ví dụ.

Tuy nhiên, mọi sự phân
chia đều là tương đối bởi vì 2 loại quan hệ pháp luật này đều gắn bó và hỗ trợ
cho nhau: không chú ý quan hệ pháp luật hành chính công thì bộ máy hành chính
không thực hiện tốt, không chú ý quan hệ pháp luật hành chính tư
thì mất đi mục đích cao nhất của quan hệ pháp luật hành chính là phục vụ cho
nhân dân. Nói tóm tại, chúng có mối liên hệ không thể tách rời bởi vì cùng là
quan hệ pháp luật hành chính, chúng thể hiện và phục vụ cho quan hệ chấp hành
điều hành.



------------------------------------------------------------------------



CÂU HỎI

1. Qui phạm pháp luật hành chính và
hương ước trong thôn bản, làng xã có giống nhau hay không? Hãy so sánh
chúng?

2. Nói "Qui phạm pháp luật hành
chính chỉ được ban hành bởi cơ quan hành chính nhà nước" là đúng hay sai? Tại
sao?

3. Hãy nêu mục đích, ý nghĩa của
việc phân chia quan hệ pháp luật hành chính công và quan hệ pháp luật hành chính
tư?

4. Phân biệt khách thể và đối
tượng trong quan hệ pháp luật hành chính?

_________________

Lhk33 hãy chung sức


____##########*________________________ __*##############______________________ __################_____________________ _##################_________**##*______ __##################_____*##########___ __##################___*#############__ ___#################*_###############*_ ____#################################*_ ______###############################__ _______#############################=__ ________=##########################____ __________########################_____ ___________*####################=______ ____________*##################________ _____________*###############__________ _______________#############___________ ________________##########_____________ ________________=#######*______________ _________________######________________ __________________####_________________ __________________###__________________ __________________##___________________ __________________#____________________
avatar
♥(¯`•▒»¦şǿċķ¦«▒• ´¯)♥
Admin

Tổng số bài gửi : 209
NHIỆT HUYẾT : 357
Cảm Ơn ! : 8
Join date : 15/02/2010
Age : 30
Đến từ : Đà Lạt

CASINO
BOYDALAT_90: 0

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by huyhoang214 on Thu Dec 02, 2010 6:01 pm

chao ? cho hoang hoi tai lieu luat hanh chinh nay theo giao trinh cua truong nao? va xuat ban nam bao nhiu?cam on.. Surprised
avatar
huyhoang214
Binh nhì
Binh nhì

Tổng số bài gửi : 12
NHIỆT HUYẾT : 19
Cảm Ơn ! : 0
Join date : 13/01/2010
Age : 29
Đến từ : Đaklak

Xem lý lịch thành viên http://nhac.vui.vn

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by huyhoang214 on Fri Dec 10, 2010 1:09 pm

sao minh hoi ma ko ai tra loi vay ta???????????????????/bun wa ah Mad
avatar
huyhoang214
Binh nhì
Binh nhì

Tổng số bài gửi : 12
NHIỆT HUYẾT : 19
Cảm Ơn ! : 0
Join date : 13/01/2010
Age : 29
Đến từ : Đaklak

Xem lý lịch thành viên http://nhac.vui.vn

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by ngumieu on Fri Dec 10, 2010 5:58 pm

huyhoang214 đã viết:chao ? cho hoang hoi tai lieu luat hanh chinh nay theo giao trinh cua truong nao? va xuat ban nam bao nhiu?cam on.. Surprised
giáo trìng của đh luật hà nội năm 2009

_________________

Lhk33 hãy chung sức


^_^ "sống trên đời sống cần có một tấm lòng...để gió cuốn đi" ^_^
^-^ hảy biết thông cảm và chia sẻ nổi đau với người khác để những điều tốt đẹp nhất sẻ đén với mình ^-^
avatar
ngumieu
Thượng Tá
Thượng Tá

Tổng số bài gửi : 365
NHIỆT HUYẾT : 491
Cảm Ơn ! : 17
Join date : 13/05/2010
Age : 30
Đến từ : nghệ an

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Bài 1 - 3

Bài gửi by Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết